Cuộc chiến hậu cần trong chiến dịch
Điện Biên Phủ.
-1954-





"Logistics is the practical art of moving armies."

General Antoine Henri Jomini

 


This is not just another story of

Điện Biên Phủ

Bối cảnh chung.

Sau 8 năm kháng chiến gian khổ và thắng lợi, đến đầu năm 1953, tương quan giữa quân đội viễn chinh Pháp và quân đội nhân dân Việt Nam đã bước sang giai đoạn chuẩn bị cho cuộc đối đầu quyết định. Tuy nhiên, định hướng chung cho “cuộc chiến Đông xuân 1953-1954” của lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam lại mới ở những nét phác thảo đại cương nhất. Hội nghị họp đầu năm của Ban chấp hành Trung ương nhận định rằng đồng bằng là chỗ rắn của địch, và hướng chiến đấu sẽ là “tạm thời tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu”, phải phân tán khối chủ lực của đối phương đang tập trung phần lớn ở đồng bằng để tiêu diệt từng bộ phận, phải chọn hướng chiến lược địch sơ hở nhưng lại là hướng quan trọng để “buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu mà chúng không thể bỏ” (35).

Cho đến tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị họp hội nghị thì Tập đoàn cứ điểm Nà Sản là mục tiêu từng dự kiến sẽ tập trung lực lượng để tiêu diệt, quân Pháp đã rút bỏ. Lúc này, cả vùng Tây Bắc quân Pháp chỉ còn đóng quân lại ở Lai Châu. Đây là vùng chiến lược quan trọng, liên quan trực tiếp đến Thượng Lào, nếu đánh lên Tây Bắc, quân Pháp không thể không đưa quân lên đối phó, như vậy Việt Nam sẽ đạt được cả mục tiêu chiến lược: tiêu diệt địch, giải phóng đất đai và nhất là buộc địch phải phân tán lực lượng (34).

Với định hướng như trên, tuy chưa khẳng định được thời gian và địa điểm tác chiến cụ thể nhưng công tác chuẩn bị hậu cần đã bắt đầu. Từ tháng 7 năm 1953, Uỷ ban chi viện tiền tuyến (còn gọi là Hội đồng cung cấp mặt trận) được thành lập, trực tiếp giúp Trung ương huy động sức người, sức của ra mặt trận. Ủy ban do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp lãnh đạo. Ủy ban chịu trách nhiệm chỉ đạo làm đường, sửa đường, thông tin liên lạc nối liền bốn phương với tiền tuyến. Tháng 11, quân Pháp nhảy dù ào ạt xuống Điện Biên Phủ. Hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến Thu Đông ở Tổng hành dinh tại Việt Bắc quyết định hướng tấn công chính trong năm tới sẽ là Tây Bắc, nhằm giải phóng Lai Châu. Bổ sung thêm nhiệm vụ bám sát địch ở Điện Biên Phủ, chuẩn bị chiến trường, tranh thủ thời cơ có lợi, diệt địch khi chúng mới lâm thời chiếm lĩnh trận địa (34).

Ngay sau đó, trung đoàn 176 của đại đoàn 316 cùng lực lượng vũ trang địa phương đã tiến hành hoạt động tiễu phỉ để chuẩn bị chiến trường Tây Bắc. Hàng ngàn thổ phỉ bị diệt và bắt dọc theo tuyến đường 41, từ tả ngạn sông Mã đến hữu ngạn sông Đà, khai thông đường tiến quân lên Tây Bắc trước mùa đông. Trong những tháng hè thu, hàng vạn dân công và thanh niên xung phong ở cả vùng tự do và vùng tạm bị chiếm cùng với công binh tiến hành sửa hàng trăm km đường lên Tây Bắc. Từng đoạn đường mòn trước đây sụt lở, cheo leo, hiểm trở chỉ dành cho người đi bộ được mở rộng, nắn thẳng, hạ thấp độ cao (34).

Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Tổng Quân uỷ báo cáo quyết tâm với Bộ Chính trị và được Bộ Chính trị phê chuẩn tập trung binh lực, hoả lực, chuẩn bị mở chiến dịch tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Công tác chuẩn bị chiến trường trước hết là việc mở đường và sửa đường được đẩy nhanh kịp cho xe kéo pháo và tiếp tế mở màn chiến dịch vào cuối tháng 1 năm 1954. Đến đầu tháng 12, đường mới đủ chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Lai Châu. Đến trung tuần tháng 12, các đơn vị công binh đã cùng hàng ngàn dân công và thanh niên xung phong thông đường được 2/3 quãng đường Tuần Giáo – Điện Biên, đến km 60, nhưng chưa đủ tiêu chuẩn kỹ thuật cho xe cơ giới vận tải tiếp tế, xe kéo pháo. Thực hiện quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, một loạt công việc cần được tính toán lại và bổ sung không những nhằm khai thông nốt đoạn đường Tuần Giáo – Điện Biên còn lại mà còn phải bảo đảm chất lượng đường cao hơn cho một chiến dịch lớn (34).

Điện Biên Phủ nằm trên cánh đồng Mường Thanh trước đây thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu, là một thung lũng tương đối bằng phẳng, chiều dài khoảng 23 km, chiều rộng trung bình 7 km đến 9 km, tổng diện tích khoảng 120km2. Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, với vị trí chiến lược ở vùng Tây Bắc là nơi hội tụ của các chặng đường nối biên giới Lào, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc và Việt Nam, nơi đây đã trở thành địa bàn để tiến hành cuộc giao tranh chiến lược ở Đông Dương. Đối với quân Viễn chinh Pháp, địa bàn này đủ lớn để xây dựng sân bay và cho phép pháo binh, xe tăng phát huy hoả lực. Đối với quân đội Nhân dân Việt Nam, đây là vùng rừng núi, giáp ranh các căn cứ địa cách mạng, cho phép huy động và che dấu lực lượng bộ binh. Điểm thách thức lớn nhất chung với cả hai bên chính là công tác hậu cần phục vụ chiến dịch bao gồm cả vận chuyển, phân phối, phục vụ cho khối lượng lớn binh sỹ trên địa bàn phân tán và địa hình chia cắt, cơ sở hạ tầng thiếu thốn.

Để khắc phục khó khăn này, mỗi bên đều có giải pháp dựa trên lợi thế của mình và tìm cách phá hoại, khoét sâu thế yếu của đối phương. Quân Pháp dựa hoàn toàn vào vận tải đường không, trông vào lợi thế tuyệt đối về vận chuyển, cung cấp cho tập đoàn cứ điểm bằng thả dù và sử dụng 2 sân bay dã chiến. Đồng thời dự kiến dùng lực lượng không quân mạnh mẽ oanh tạc quyết liệt hệ thống vận tải của đối phương. Phía Việt Nam dựa chủ yếu vào vận tải đường bộ, sử dụng cả ô tô và phương tiện thô sơ, dự định tận dụng khả năng cung cấp hậu cần tại chỗ, cả bằng nông sản của nông dân, cả nhờ khai thác quân cụ lấy được của địch. Mặt khác, sử dụng mạnh lực lượng pháo binh để phá huỷ sân bay và huy động lực lượng phòng không để chế áp khả năng thả dù của đối phương. Đó là toàn cảnh Chiến lược của cuộc chiến hậu cần sẽ diễn ra quyết liệt giữa hai bên.

Tướng Nava trong cuốn sách Đông Dương hấp hối (Agonie de l’Indochine) đã nhận xét về vấn đề hậu cần ở cứ điểm Điện Biên Phủ như sau: “Vị trí này rất khó đến bằng đường mòn trên đồi núi. Cánh đồng Điện Biên Phủ đông dân, trù phú nhất miền Thượng du. Sản lượng lúa gạo tại đây rất thừa thãi có khả năng nuôi sống từ 20,000 tới 25,000 người. Phi trường có thể mở rộng rất nhiều, có khả năng gấp hai gấp ba lần.

Tuy nhiên Điện Biên Phủ, trong những trường hợp mà chúng tôi thấy, có một trở ngại lớn về hàng không, nó cách xa phi trường tại châu thổ BV, nhưng phải chấp nhận khó khăn này không có cách nào khác.

Vả lại đường xa gây trở ngại cho ta về không quân thì cũng gây trở ngại cho Việt Minh về tiếp liệu. Điện Biên Phủ cách Châu thổ 200 km, cách biên giới Trung Quốc 300 km, không có đường từ biên giới tới đó, hoặc nếu có cũng dễ bị phá hỏng. Vì thế nếu đánh Điện Biên Phủ, Việt Minh phải dùng dân công tiếp tế, khả năng giới hạn thôi. Trong một bài nghiên cứu tháng 5-1953 về các chiến dịch miền Thượng du, Tướng Salan đã nêu ý kiến rằng Việt Minh không thể dùng nhiều vũ khí nặng vì khó khăn về vận chuyển (1).”

Đại tá quân viễn chinh Pháp Giuyn Roa kể: “Tham mưu trưởng của ông (tức Nava - TG), viên phụ tá hành quân của ông, các kỹ thuật viên và các chuyên viên trong ê kíp của ông đểu khẳng định với ông là cách xa căn cứ của chúng đến thế thì Việt Minh không thể đóng quân lâu được. Bằng giọng chắc chắn với một thoáng bĩu môi khinh miệt, các sĩ quan phòng Nhì bảo cho ông biết là các đại đoàn của ông Giáp để sống được cần có gạo mà dân công phải khuân vác vất vả. Họ vừa đi vừa ăn dọc đường thì đến nơi gần như hết sạch, hoàn toàn uổng công (15). Học giả Mỹ Maicơn Mắc Clia khẳng định: “Bộ chỉ huy Pháp nghĩ rằng Việt Minh không có xe tải, không có phương tiện vận chuyển vũ khí, lương thực và các đồ dùng khác để chiến đấu ở cách xa hậu phương đến như vậy. Điểu đó hoàn toàn không phải là ngớ ngẩn. Đó là một ý nghĩ rất hợp lý (16)”. Tướng Pháp Y. Gras trong cuốn “Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương” viết: “...Cuộc tiến công tập đoàn cứ điểm đặt ra vấn đề hậu cần tiếp tế cùng một lúc - nếu không phải là đặt ra trước - vấn đề chiến thuật. Liệu có thể bảo đảm về mặt hậu cần cho một khối chủ lực quan trọng chiến đấu cách xa hậu phương của nó đến như vậy hay không? nhiều người - nhất là trong bộ tham mưu Pháp - cho rằng Việt Minh không thể làm được điều đó (34).”

Như vậy, bên cạnh những lý do về địa bàn quân sự thì khả năng cung cấp hậu cần khó khăn cho lực lượng Việt Minh là một trong những yếu tố quyết định quan trọng đã được Bộ Chỉ huy Pháp tính đến để ra quyết định chấp nhận cuộc đối đầu quyết định này ở Điện Biên Phủ. Phía Việt Nam trong khi thấy rõ khó khăn của mình cũng tìm cách khai thác những khó khăn của địch. Tổng Quân ủy Quân đội Nhân dân Việt Nam nhận định: “Tiến hành chiến dịch rất lớn này ta có nhiều khó khăn nhưng lớn nhất là vấn đề cung cấp, mà chủ yếu là vấn đề đường sá” (2). Bộ Chính trị đảng Lao Động Việt Nam phân tích: “Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh của địch nhưng có cái yếu cơ bản là bị cô lập, mọi việc tiếp viện, tiếp tế đều dựa vào đường không” (2).

Tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Trên mặt trận Điện Biên Phủ, vấn đề cung cấp lương thực, thực phẩm, đạn dược là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém về tác chiến; khó khăn về cung cấp không kém khó khăn về tác chiến. Hậu cần phải cung cấp lương thực đạn dược cho một binh lực lớn ở xa hậu phương hàng 500-700 km trong một thòi gian dài, mà trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thiếu thốn, quân địch không ngừng đánh phá các tuyến đường cung cấp của ta. Lại còn thời tiết nữa, một trận mưa có thể gây trở ngại hơn một trận bom địch. Chính vì vấn đề cung cấp khó khăn như vậy, cho nên quân địch không bao giờ tưởng tượng được rằng chúng ta có thể khắc phục được khó khăn này” (3). Như vậy, đối với phía Việt Nam, khó khăn tiếp vận cũng là điểm yếu của đối phương mà họ định khai thác, đồng thời hậu cần của mình được coi là điểm bất ngờ với địch nếu khắc phục được.

Chuẩn bị lực lượng

Để chuẩn bị cho chiến dịch quan trọng này cả hai bên đều lên kế hoạch hậu cần khá chu đáo. Ngày 20 tháng 11, quân Pháp cho 63 chuyến máy bay Dakota C-47 thả 2 tiểu đoàn và 1 trung đoàn dù nhẹ với 3.000 lính dù và quân cụ xuống Điện Biên Phủ. Hai ngày sau, ngày 21 và 22 tháng 11, liên tiếp 3 tiểu đoàn dù cùng một đại đội pháo binh được thả xuống. Chỉ sau 4 ngày, sân bay cũ Mường Thanh đã được sửa chữa để đưa vào sử dụng. Sáu máy bay chiến đấu và các máy bay trinh sát bắt đầu đóng tại phi trường. Cầu hàng không cung cấp cho Tập đoàn cứ điểm đã chính thức hoạt động.

Có tiếp viện trực tiếp, hàng hoá quân cụ được quân Pháp kìn kìn chở tới để nhanh chóng xây dựng căn cứ. Một khối lượng lớn vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép được vận tải đến, chỉ tính riêng dây thép gai đã lên đến 3,000 tấn. Các trang bị phục vụ sinh hoạt và tác chiến cho hàng vạn quân được nhanh chóng trang bị. Hàng loạt vũ khí đặc biệt dành cho phòng ngự chiều sâu đã được trở tới như thuốc nổ, mìn, bom lửa, mặt nạ che đạn khói, máy hồng ngoại tuyến…ngay cả súng phòng không 4 nòng, súng phun lửa cũng được trang bị để tạo hoả lực uy hiếp. Biết bộ đội Việt Nam đã có pháo binh, một đội pháo 155 mm chuyên dùng để phản pháo đã được trang bị,…(1)

Binh lực Pháp ở Điện Biên Phủ tăng lên nhanh chóng. Đến ngày 3 tháng 12, có 9 tiểu đoàn và hai đội pháo binh, rồi tăng lên 10, 11 và cuối cùng 12 tiểu đoàn, 10 xe tăng M-24, ba pháo đội 105 mm và 155 mm cùng với 4 tiểu đoàn súng cối 120 mm với tổng quân số 16.200 người đã đổ dồn vào lòng chảo Điện Biên. Kèm theo lực lượng tác chiến là trang bị đạn dược, khí tài, nhiên liệu, lương thực, thuốc men phục vụ chiến đấu. Cho đến ngày 13 tháng 3 năm 1954, tập đoàn cứ điểm đã có đủ dự trữ 9 ngày lương thực, 8 ngày nhiên liệu xăng, 6 đơn vị quân cụ phục vụ hỏa lực cho từng tiểu đoàn bộ binh, 6 đơn vị rưỡi phục vụ hỏa lực cho pháo 105mm, 7 đơn vị cho pháo 155mm, 8 đơn vị cho súng cối 120 mm và 9 đơn vị cho pháo 75 mm của xe tăng M-24 (1). Công tác chuẩn bị hậu cần của quân Pháp đã hoàn tất.

Tướng Cogny ước lượng khi bắt đầu tác chiến, đội quân khổng lồ ở Điện Biên Phủ sẽ cần khoảng 70 tấn vật tư các loại trong một ngày để đảm bảo cung ứng cho mức chiến đấu trung bình và 96 tấn một ngày khi chiến đấu ở mức độ cao (1). Mức độ hỗ trợ như vậy nằm trong tầm kiểm soát của liên quân Pháp-Mỹ. Cho đến năm 1954, 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương đã do Hoa Kỳ chi trả. Năm 1953, viện trợ Mỹ cả kinh tế và quân sự đã lên tới 2,7 tỷ trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ đôla, năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3 tỷ đô la nữa.

Mức chuyên chở khối lượng hàng hoá to lớn này hoàn toàn nằm trong khả năng tiếp vận bình thường của không quân Pháp. Không quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương từ lúc khởi đầu cuộc chiến đã có trong tay 75 chiếc máy bay vận tải Dakota C47 và 5 chiếc C -119 của Mỹ giúp. Tới ngày 1 tháng 2 năm 1954, số máy bay Dakota tăng lên 100 chiếc và 16 máy bay dân sự Mỹ Packet C-119 của tướng Mỹ Chenault chỉ huy hỗ trợ chưa kể đến nhiều loại máy bay dân sự của Pháp loại C-46 , Bristol, DC-4 và SO30P,…đang hoạt động ở Đông Dương (1). Sân bay Mường Thanh có thể tiếp nhận ở mức bình thường khoảng 60-80 chuyến tiếp vận/ngày.

Về phía quân đội Nhân dân Việt Nam, gánh nặng công tác hậu cần lớn hơn đối phương rất nhiều. Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam và Tổng cục Cung cấp tính toán bộ đội trực tiếp chiến đấu cần cần được cung ứng 4.200 tấn gạo, 100 tấn rau, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn đường vượt hàng trăm km đường đèo dốc hiểm trở, bị máy bay Pháp thường xuyên đánh phá.

Thực tế, tổng quân số trực tiếp tham chiến lên tới 53.830 quân cùng với 33.300 thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến. Để nuôi số người khổng lồ này cần đưa lên vùng miền núi xa xôi 14.950 tấn gạo, chưa kể đến rau, thịt, thuốc men… để phục vụ cho chiến đấu. Riêng đạn và xăng đã lên tới gần 3.000 tấn, trong đó là 1.450 tấn đạn. Tính chung, khoảng 20.125 tấn hàng hoá phải cung cấp cho chiến dịch Điện Biên Phủ (4).

Vận chuyển khối lượng hàng hoá to lớn trên qua một chặng đường dài hàng trăm km cần có lực lượng vận tải rất mạnh và điều hành rất khoa học đảm nhiệm. Khác với mọi chiến dịch khác trong kháng chiến, lần này phương tiện vận tải phục vụ chiến dịch chủ yếu là cơ giới. Tổng số 352 xe ô tô vận tải được sử dụng, có lúc phải huy động thêm 94 xe kéo pháo của pháo binh để vận chuyển hàng hoá. Có tới 2/3 toàn bộ xe vận tải của ngành hậu cần đã được huy động.

Đồng thời mọi phương thức vận tải thô sơ cũng được tận dụng. Tổng số 2.500 chiếc xe đạp thồ, hàng vạn mảng tre nứa và hàng vạn dân công gồng gánh, mang vác... để tham gia vận chuyển hàng hóa.

Tổng Quân ủy nhận định: “Để tiến hành chiến dịch rất lớn này, ta có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất vẫn là cung cấp, mà chủ yếu là vấn đề đường sá” (6). Đầu tiên phải mở đường vận chuyển cho chiến dịch. Đường 13 từ Yên Bái lên Tạ Khoa được tu bổ. Bộ Giao thông công chính sửa đường 13 lên tới Cò Nòi, và đường 41 từ Mộc Châu lên Sơn La, công binh phụ trách quãng đường 41 từ Sơn La đi Tuần Giáo và đến Điện Biên Phủ. Từ tháng 12 năm 1953, công việc xây dựng bắt đầu. Con đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ, dài 82 km, vốn chỉ là đường mòn rộng 1 m, được mở rộng thành đường ô tô rộng. Xe kéo pháo vào cách Điện Biên 15 km rồi pháo được kéo tiếp bằng tay trên đường rộng 3 m vào trận địa xa 15 km. Từ cửa rừng Nà Nham, qua đỉnh Pha Sông cao 1.150 mét, xuống Bản Tấu, đường Điện Biên Phủ - Lai Châu, tới Bản Nghễu. Chỉ trong chỉ trong hơn ba tháng (từ tháng 12 năm 1953 đến đầu tháng 3 năm 1954) (6) giữa mùa đông lạnh giá, dưới bom đạn, hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong đã phá núi, bạt rừng, mở mới 89km đường, sửa chữa nâng cấp 500km xuyên qua đèo cao, suối sâu (2). Các con đường mới mở này phải phá đá, bạt đèo rồi được ngụy trang cẩn thận, máy bay trinh sát Pháp không phát hiện nổi.

Tổ chức hoạt động hậu cần

Hệ thống cung ứng hậu cần của quân đội Liên hiệp Pháp chia thành 2 tuyến: Tuyến một, nối đến 2 sân bay chính ở Mường Thanh, và sân bay dự bị ở Hồng Cúm nằm trong thung lũng Điện Biên Phủ, thông qua cầu hàng không, trung bình mỗi ngày tiếp nhận gần 100 lần/ chiếc máy bay vận tải tiếp tế, khoảng 200 - 300 tấn hàng và thả dù khoảng 100 - 150 tấn hàng khác. Đầu cầu hàng không xuất phát từ Hà Nội, Hải Phòng. Tuyến hai, là hệ thống cầu hàng không quốc tế nối từ sân bay Cát Bi, Gia Lâm đến các căn cứ hậu cần của Mỹ đóng ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippin. Như vậy, công tác phục vụ trực tiếp chiến dịch từ sửa chữa quân cụ đến cứu chữa thương binh có thể tiến hành ở Hà Nội, Hải Phòng, cách Điện Biên hơn 300 km về phía Đông. Vũ khí và trang bị được trực tiếp viện trợ từ nước ngoài. Hàng loạt nhà máy, kho tàng, công xưởng chuyên dụng ở nhiều quốc gia cùng lúc được huy động phục vụ trực tiếp cho chiến dịch. Cũng vì thế, điều hành công tác hậu cần trực tiếp do Bộ Chỉ huy đặt tại Hà Nội thực hiện.

Hệ thống hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam chia thành hai tuyến phục vụ chiến dịch: tuyến chiến dịch, và tuyến chiến lược. Tuyến Chiến lược (còn gọi là tuyến Hậu phương) do Tổng cục Cung cấp và Hội đồng Cung cấp mặt trận Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 đảm nhiệm, bao gồm Hội đồng Cung cấp Trung ương và Hội đồng Cung cấp các liên khu trên khắp miền Bắc. Hội đồng Cung cấp Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Ông Nguyễn Văn Trân làm Phó Chủ tịch. Hội đồng Cung cấp của các liên khu Việt Bắc, Tây Bắc, 3, 4 và dưới liên khu do các Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính làm Chủ tịch.

Tổng cục trưởng Tổng cục Cung cấp Trần Đăng Ninh, người đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Cung cấp Chiến dịch Biên giới 1950, lúc này bị ốm nặng, trách nhiệm Trưởng ban Cung cấp chiến địch Điện Biên được giao cho phó Tổng cục trưởng Đặng Kim Giang, bạn chiến đấu thân cận của ông.

Tổng cục Cung cấp đã điều chỉnh lại các cơ sở kho tàng vũ khí, binh trạm vận tải, bệnh viện quân y và xưởng quân giới trên toàn miền Bắc, tập trung lại thành 5 cụm lớn: Căn cứ trung tâm đặt ở Bắc Cạn-Thái Nguyên gồm các cơ quan lãnh đạo, tổng kho. Hướng chính Tây Bắc có 2 căn cứ một ở Tây Bắc, phục vụ cho Tuyên Quang-Phú Thọ-Yên Bái và một ở Đồng bằng phục vụ cho Hoà Bình-Ninh Bình-Thanh Hoá bảo đảm vận chuyển lên Tây Bắc qua đường 41. Ngoài ra còn có căn cứ Tây Hà Tĩnh vận chuyển cho miền Nam và cung cấp cho Bình-Trị-Thiên và chiến trường Lào, căn cứ Đông Bắc phục vụ Lạng Sơn-Bắc Giang. Các kho tàng này đã phục vụ tốt cho quá trình tập kết, hành quân bộ đội lên Tây Bắc (6,8).

Tuyến chiến dịch do Tổng cục Cung cấp tiền phương và Hội đồng Cung cấp khu Tây Bắc đảm nhiệm. Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Đặng Kim Giang là Chủ nhiệm hậu cần chiến dịch kiêm đảng uỷ viên Đảng uỷ mặt trận, Cục trưởng Cục Quân nhu Nguyễn Thanh Bình làm Phó chủ nhiệm cung cấp chiến dịch và Nguyễn Ngọc Minh làm Tham mưu kế hoạch hậu cần (5). Khác với quân Pháp, cơ quan chỉ huy hậu cần của Quân đội Việt Nam được bố trí ngay tại mặt trận. Tất cả chỉ huy Tổng cục Cung cấp và thủ trưởng các Cục của Tổng cục đều có mặt trên trận địa (2). Các hoạt động phục vụ tác chiến như quân giới, quân y,… đều tiến hành tại chỗ.

Ảnh. Bộ chỉ huy kiêm Đảng ủy mặt trận Điện Biên Phủ, từ trái sang phải: Chủ nhiệm Cung cấp (Hậu cần) Đặng Kim Giang, Chủ nhiệm Chính trị: Lê Liêm, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Tư lệnh kiêm Bí thư Võ Nguyên Giáp

Tổng cục Cung cấp thành lập Ban Quân khí tiền phương do Nguyễn Văn Nam Cục trưởng Cục Quân khí làm Trưởng ban, Phan Tử Lăng Cục phó Cục Quân khí làm Phó ban. Cơ quan quân khí tiền phương gồm 139 cán bộ, chiến sĩ của Cục Quân khí, 4 đội thanh niên xung phong 478 người. Trưởng ban quân khí tiền phương phụ trách bảo đảm vũ khí cho mặt trận; bộ phận quân khí hỏa tuyến; bộ phận kho ở Xuân Ninh, Ngũ Mãng và các phân kho trung tuyến, hỏa tuyến; đội sửa chữa vũ khí đạn; đội thu hồi, xử lý vũ khí đạn chiến lợi phẩm; ngoài ra còn có nhân viên kỹ thuật tăng cường cho các đại đoàn để chỉ đạo và giải quyết ngay các vấn đề về vũ khí cho đơn vị (7).

Đinh Đức Thiện là Cục trưởng vận tải trực tiếp chỉ huy ngành Xe máy, được biên chế 16 đại đội với 628 xe, hơn 800 lái xe và 300 thợ sửa chữa phục vụ chiến đấu. Xưởng Tiền Phong và xưởng Chiến Thắng tập trung sửa chữa bảo đảm cho các xe tham gia chiến dịch. Trên đường ra mặt trận, bố trí xưởng sửa chữa AZ11 ở ngã ba Đông Lý (Yên Bái) đủ khả năng sửa chữa các xe hoạt động trên tuyến; có 2 đội sửa chữa bố trí ở Tuần Giáo và Km 15 đường Tuần Giáo - Điện Biên phục vụ các xe hoạt động ở trung tuyến và hỏa tuyến; có 2 đội sửa chữa cơ động, một đội hoạt động trên đường 41 và một đội hoạt động trên đường số 1, mỗi đội có từ 7 đến 8 thợ giỏi sẵn sàng sửa chữa khắc phục những xe hỏng hóc dọc đường (7).

Trưởng Ban Quân y chiến dịch là bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y. Cục Quân y đã huy động toàn lực để phục vụ chiến dịch: 7 đội điều trị trực thuộc Cục, 2000 dân công, 1 đội chuyển thương, l đội vệ sinh phòng dịch, 1 kho dược, giáo viên và học viên Trường Quân y, các bệnh viện hậu phương ở Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4. Ngoài ra còn có các sinh viên Trường Đại học Y khoa.

Tại tuyến hậu phương có các bệnh viện hậu phương và đoàn thu dung 99 của Bộ. Lần đầu tiên trong đội hình quân y chiến dịch có mặt các đội điều trị ở 4 đại đoàn đại đoàn, các đội điều trị của Cục Quân y, các đội điều trị còn lại làm nhiệm vụ bệnh viện dã chiến. Ở tuyến quân y chiến thuật có quân y đại đội, tiểu đoàn, đại đội quân y trung đoàn, mỗi tuyến cách nhau 4-5 giờ cáng bộ (10).

Đánh nhanh, thắng nhanh

Để phục vụ kịp thời cho chiến dịch, một lực lượng dân công lớn chưa từng thấy, từ miền xuôi đến miền ngược, từ vùng tự do đến vùng tạm bị chiếm, tạm gác việc nhà, ra đi thành đoàn thành đội, với quang sọt, đòn gánh, xe đạp thồ, thuyền, lừa ngựa và cả voi thồ... mang theo lương thực, vũ khí, gạo muối, lương khô, thuốc lào... hướng lên Tây Bắc (34).

Được trang bị thêm vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt là sự xuất hiện của pháo binh, lại vừa trải qua các đợt học tập chính trị, nâng cao tinh thần, các đơn vị bộ đội của quân đội Nhân dân Việt Nam rất tự tin sẽ dành thắng lợi nhanh chóng. Mặt khác, sức ép của công tác hậu cần khi mùa mưa đến cũng hướng đến một kế hoạch tiến công ồ ạt để giành thắng lợi nhanh chóng.

Đầu tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở chiến dịch tấn công. Kế hoạch tiêu diệt Tập đoàn Điện Biên Phủ nhanh chóng trong 3 ngày đêm đã được Bộ Tổng tham mưu xây dựng với sự nhất trí của đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Trong cuộc họp Đảng uỷ mặt trận ngày 12 tháng 1 năm 1954, Chủ nhiệm hậu cần Đặng Kim Giang phát biểu: “đánh theo phương án này đỡ lo cung cấp. Chúng tôi đã tính tại khu vực Điện Biên Phủ cần đến 50 tấn gạo cho một ngày chiến đấu. Nếu tính từ Sơn La trở lên mỗi ngày cần tới 90 tấn gạo cho cả bộ đội và dân công. Đó là mới nói gạo chưa kể đạn dược và thuốc men. Hiện nay địch đã đánh phá mạnh tuyến đường tiếp tế độc đạo từ Cò Nòi lên Điện Biên Phủ. Nếu đánh kéo dài, vấn đề cung cấp rất khó giải quyết (24).”

Để phục vụ cho kế hoạch tấn công này, ngành hậu cần chỉ có hơn 1 tháng từ trung tuần tháng 12 năm 1953 đến 20 tháng 1 năm 1954 để chuẩn bị chiến trường theo phương trâm: “đánh nhanh, giải quyết nhanh” (8). Hội đồng Cung cấp chiến dịch có trách nhiệm đưa dân công chuyển chuyển vũ khí đạn dược, xăng dầu... giao cho Tổng cục Cung cấp tiền phương. Hướng từ Việt Bắc giao ở Ba Khe, hướng từ Liên khu 3, Liên khu 4 giao ở Suối Rút. Tổng cục Cung cấp tiền phương vận chuyển tiếp lên mặt trận và tổ chức các kho dự trữ quanh thị xã Sơn La, các kho trung tuyến từ Km 31 đến Km 87 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Các kho hàng nằm trong hang đá, hầm đào vào vách núi, được xây dựng và ngụy trang cẩn thận (7).

Để nuôi tổng quân số khoảng 35.000 người, trong thời gian tác chiến ước độ 45 ngày, dự kiến cần cung cấp cho chiến dịch 9000 tấn hàng trong đó 85,5% là lương thực, thực phẩm, gồm 7730 tấn gạo, 140 tấn muối và 465 tấn thực phẩm khô (5). Trước hết, các đơn vị chiến đấu được lệnh chủ động tự túc lấy rau xanh và thịt ăn. Tất cả các đại đoàn 316, 312, 308... đều phát động phong trào kiếm hái rau rừng, hoa chuối, củ mài, trồng rau ngắn ngày ở phía sau và các kho trạm, đánh cá sông, suối. Hàng trăm con bò đưa theo bộ đội hàng trăm cây số để làm thành thịt ướp, giá đỗ cũng hành quân trên vai chiến sĩ (2).

Thứ hai, là khai thác nguồn lương thực thực phẩm tại chỗ. Tổng cục Cung cấp tiền phương chủ trương “Tích cực huy động gạo tại chỗ là chính, đồng thời đẩy mạnh việc vận chuyển gạo từ hậu phương, các tuyến sau lên” (6), dự kiến huy động ngay tại Tây Bắc hơn 6000 tấn gạo và chỉ cần chuyển thêm gần 1700 tấn từ hậu phương lên. Ông Lò Văn Hạc là chủ tịch tỉnh Lai Châu, đóng trụ sở làm việc trên cùng một quả đồi với Sở chỉ huy Hậu cần của ông Đặng Kim Giang, ở đoạn cuối đường tiếp vận, cách sở chỉ huy của đại tướng Tổng tư lệnh ở Mường Phăng 1-2 km. Chính quyền địa phương tích cực vận động nông dân đóng góp quân lương. Đồng bào Dao trồng lúa, ngô trên rẻo cao cũng tình nguyện nộp thuế dù được chính phủ miễn. Tây Bắc đã huy động được khoảng 7.300 tấn gạo, chiếm đến 50% gạo ăn của lực lượng chiến đấu. Đây là nguồn lương tại chỗ quí báu vì dân rất nghèo và quân đội đỡ tốn công sức vận chuyển (2).

Cánh đồng Điện Biên là vựa lúa chính của Tây Bắc, vào đúng mùa thu hoạch, tuy bị quân Pháp dồn hết vào bản Long Nhai, đồng bào các dân tộc gặt lúa xong đã xếp từng đống để lại ngoài đồng để đêm đêm bộ đội trở về dùng. Xưa nay, đồng bào dân tộc chỉ dùng cối giã gạo dùng sức nước giã bằng sức nước cả ngày mới được một cối 3-5 kg gạo. Quân nhu sử dụng một đoàn dân công tỉnh Vĩnh Phúc đưa 60 thợ đóng cối xay lúa lên làm cối, hình thành những “công trường thủ công” tham gia xay giã gạo với nhân dân địa phương (5).

Sau 3 tháng ngày đêm khẩn trương làm việc, trung đoàn công binh 151 cùng các lực lượng dân công, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã thông đường đúng kế hoạch. Ngày 27 tháng 11 năm 1953, xe vận tải đã đến Tuần Giáo và ngày 16 tháng 1 năm 1954, ô tô đã kéo 24 khẩu pháo 105mm của trung đoàn lựu pháo 54 cùng các tiểu đoàn pháo cao xạ, các xe chở đạn, khí tài phục vụ... đã vào đến Km 70 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ (7). Đến ngày 25 tháng 1 năm 1953, công tác chuẩn bị hậu cần căn bản hoàn thành cung cấp đủ gạo, thực phẩm, đạn dược cho các đơn vị và có dự trữ tại các kho chiến dịch (8). Lúc này, các đơn vị chiến đấu của quân đội Nhân dân Việt Nam đã nô nức chiếm lĩnh trận địa, sẵn sàng nổ súng.

Đánh chắc tiến chắc

Chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh dựa trên nhận định: quân Pháp mới đổ quân đang trong tình trạng “lâm thời phòng ngự”, chưa kịp xây dựng trận địa kiên cố, lại có nhiều sơ hở ở phía Tây. Đơn vị chủ công

của quân đội Nhân dân Việt Nam là Đại đoàn 108 (đã từng được đưa sang Trung Quốc ở vùng giáp biên giới huấn luyện quân sự và tiếp nhận vũ khí (23)), theo kế hoạch này sẽ đánh từ hướng Tây, xuyên qua những căn cứ trên cánh đồng, tiến thẳng tới sở chỉ huy của De Castries. Các đại đoàn 312, 316 đánh từ hướng Đông vào các căn cứ quan trọng khác dưới sự yểm trợ của pháo binh và cao xạ. Đây là chiến thuật mà chuyên gia Trung Quốc Mai Gia Sinh gọi là “oa tâm tạng” (moi tim) (24). Ngày 14 tháng 1 năm 1954, tại căn cứ Thẩm Púa, đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến kế hoạch theo phương trên cho các chỉ huy chiến đấu của các đại đoàn, trung đoàn. Lệnh ban ra là sẽ tổ chức tấn công theo phương án “đánh nhanh” vào ngày 20 tháng 1.

Tuy nhiên, đến lúc này, quân Pháp không còn ở tình trạng “lâm thời phòng ngự” nữa. Công tác xây dựng công sự kiên cố căn bản đã hoàn thành, tập đoàn cứ điểm đề kháng hoàn chỉnh và sẵn sàng chiến đấu với 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu: phân khu Bắc gồm hai căn cứ Độc Lập và Bản Kéo, phân khu Trung tâm được các cao điểm phía Đông bảo vệ (cao điểm Him Lam nằm ở phía Bắc nhóm này), có sở chỉ huy, sân bay, các cụm đề kháng, căn cứ hoả lực, hậu cần và lực lượng phản kích và phân khu Nam có căn cứ hoả lực và sân bay nhỏ.

Quân số của Pháp là 12.000 người, tuy chỉ bằng khoảng 1/3 lực lượng Việt Nam nhưng nắm trong tay lợi thế về địa hình, công sự, vật chướng ngại và trang bị vũ khí. Số lượng pháo binh kể cả các cỡ thì phía Việt Nam nhỉnh hơn (64/49 khẩu) nhưng đạn thì ít hơn rất nhiều lần. Phía Pháp hơn hẳn ở lực lượng cơ động thiết giáp (10 xe tăng) và hoàn toàn làm chủ bầu trời với toàn bộ không quân được Mỹ yểm trợ. Với tương quan lực lượng như trên và cách bố phòng của quân đội Pháp, thực sự cho đến sát trận đánh, các tướng lĩnh Pháp, Mỹ vẫn tin rằng đây sẽ là cái bẫy giương ra để tiêu diệt lực lượng chủ lực non trẻ của quân đội nhân dân Việt Nam nếu họ chấp nhận cuộc chiến. Sau này, Navarre khẳng định: “Nếu tướng Giáp tiến công vào khoảng 25 tháng 1 như ý đồ ban đầu thì chắc chắn ông ta sẽ thất bại. Nhưng không may cho chúng ta, ông đã nhận ra điều đó và đây là một trong những lí do khiến ông tạm ngưng tiến công (25).”

Nhận thấy không nắm chắc phần thắng và nhìn rõ sự hy sinh to lớn của bộ đội Việt Nam nếu áp dụng cách “đánh nhanh, thắng nhanh”, đại tướng Võ Nguyên Giáp thảo luận lại với Đảng uỷ mặt trận và đoàn chuyên gia Trung Quốc để đề xuất áp dụng cách mới là “đánh chắc, tiến chắc”.

Kế hoạch này gồm 3 bước: bước 1, hoàn tất đường ô tô vận chuyển vũ khí, hàng hoá và chuẩn bị hậu cần; hoàn chỉnh hệ thống hầm pháo, xây dựng trận địa chiến hào bao vây để khắc phục ưu thế phi pháo và máy bay của địch. Bước 2, tiêu diệt các trung tâm đề kháng phía ngoài, khống chế sân bay, đưa cao xạ vào cánh đồng, khoét sâu yếu điểm của địch, triệt nguồn tiếp tế của địch. Bước 3, tổng công kích, tấn công sở chỉ huy, tiêu diệt sinh lực địch. Đánh theo cách này phát huy được ưu thế của Việt Nam, hạn chế thế mạnh của quân Pháp. Có thể nói, chuyển cách đánh mới tuy gây khó khăn chung cho bộ đội Việt Nam nhưng đảm bảo an toàn hơn cho tất cả mọi lực lượng, riêng lực lượng bảo đảm hậu cần chẳng những vất vả hơn mà còn gánh chịu nguy hiểm hơn nhiều.

Thời gian kéo dài có thể sang đến cả mùa mưa, khối lượng hậu cần phải tăng lên gấp 8 - 9 lần, tổ chức đảm bảo hậu cần chiến dịch phải điều chỉnh, các chuẩn bị hậu cần phải cân đối lại để đáp ứng tình hình: “đánh dài ngày, liên tục, ác liệt” với mấy đặc điểm nổi bật:

  • Lần đầu tiên thực hành tiếp tế bảo đảm tác chiến trên trận địa dưới hỏa lực địch. Phải xây dựng hệ thống hầm hào và tổ chức lại đưa xuống hầm các khâu: cấp dưỡng, cứu thương, chuyển vận...nối liền tuyến trước, tuyến sau.

  • Các hoạt động chiến đấu như tấn công, vây hãm, đánh lấn liên tục nhau không thành từng trận đánh. Những trận đột kích, phản đột kích quyết liệt sẽ diễn ra, thương vong tổn thất nhiều. Đòi hỏi vật chất, nhân lực phải được bổ sung thường xuyên kịp thời và nhanh chóng khôi phục “cơ số dự trữ chiến hào” về vũ khí, lương thực.

  • Tổ chức “đời sống chiến địa”đảm bảo vệ sinh, an toàn cho hàng vạn bộ đội, dân công, cứu chữa thương binh, sửa chữa súng đạn… kéo dài sang mùa mưa dưới bom đạn của không quân địch.

  • Khó khăn lớn nhất cho hậu cần chiến dịch là khâu vận tải. Đường cơ giới từ hậu phương lên tiền tuyến chỉ có hai con đường (13, 41) nhỏ hẹp, lắm đèo dốc. Máy bay địch sẽ tập trung oanh tạc dữ dội những đoạn hiểm yếu nhất (đèo Cà, đèo Khế, Mỏ Thổ, Pha Đin, Cò Nòi...) (14).

Thực hiện phương châm tác chiến mới, trong vòng gần 2 tháng sau, quân đội nhân dân Việt Nam kéo pháo ra, mở đường rộng, dài hơn, rồi lại kéo pháo vào, xây dựng công sự kiên cố, đào hầm hào tiếp cận gần hơn căn cứ quân Pháp, tập trung vận chuyển thêm rất nhiều lương thảo, vũ khí từ hậu phương lên.

Đến đầu tháng 2 năm 1954, lực lượng chiến đấu của quân đội Nhân dân Việt Nam ở Điện Biên Phủ đã lên tới 4 đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công pháo và một số đơn vị phục vụ khác. Quân số chiến đấu là 43.000 người, nhu cầu vật chất tăng gấp nhiều lần so với kế hoạch ban đầu, đạt tới gần 20 nghìn tấn (5). Vì vậy, từ trung tuần tháng 2 năm 1954, công tác tiếp tế cũng phải nhanh chóng thay đổi lại đáp ứng phương án tác chiến mới của chiến dịch: Tuyến vận chuyển của Hội đồng Cung cấp kéo dài lên đến Sơn La; lực lượng phục vụ chiến dịch được tăng cường với 3.168 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và hơn 261.451 dân công, thanh niên xung phong (7).

Một bức thư hoả tốc được gửi về báo cáo Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch đề nghị phê duyệt chủ trương tác chiến mới và đề nghị động viên hậu phương chi viện bộ đội ăn no đánh thắng trong điều kiện chiến dịch có thể kéo dài (34). Đảng uỷ quyết tâm chỉ đạo chỉ huy bộ đội thực hiện bằng được nhiệm vụ Trung ương trao cho là tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Tổng Quân ủy tăng cường cho Tổng cục Cung cấp tiền phương hơn 300 cán bộ, trong đó có 35 cán bộ cao cấp, trung cấp và cử Trần Lương - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy hậu cần chiến dịch. Lúc này, tất cả các Cục trưởng thuộc Tổng cục Cung cấp đều lên đưòng phục vụ chiến dịch. Lực lượng cung cấp chiến dịch được chấn chỉnh, dọc theo đường vận chuyển chiến dịch dài hơn 500 km, tổ chức hậu cần chiến dịch chia ra 3 tuyến, các cơ sở và kho tàng quân nhu cũng được bố trí thành ba khu vực (5):

Từ Sơn La, Lai Châu đi Tuần Giáo do Đinh Đức Thiện phụ trách, Mai Quang Ca làm chính trị viên. Sở chỉ huy đặt ở gần thị xã Sơn La; Từ Tuần Giáo đến km 62 do Vũ Văn Đôn phụ trách, Kinh Chi làm chính trị viên sở chỉ huy đặt ở gần Tuần Giáo và từ km 62 ra các trận địa hoả tuyến do Nguyễn Thanh Bình phụ trách Cục phó Cục Chính trị hậu cần Vũ Xuân Chiêm làm chính trị viên, sở chỉ huy đặt tại Km 6 trên đường Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ (12, 21). Mỗi tuyến có bộ phận chỉ huy và bộ phận đảm bảo hoạt động hậu cần, tổ chức thành bốn binh trạm ở Ba Khe, Sơn La, Tuần Giáo, Km 62, mỗi binh trạm có đủ các lực lượng vận tải, kho, quân y, vừa bảo đảm cho bộ đội hành quân, vừa tiếp chuyển quân cụ và trực tiếp phục vụ chiến trường (6,8). Mỗi tuyến vận tải đều tổ chức đồng bộ lực lượng: ô tô, xe thồ, dân công, vừa vận tải, vừa làm đường ra tiền tuyến (12). Tại tiền tiêu, phía sau hậu cần của từng đơn vị chiến đấu là hậu cần chiến dịch. Kho phía trước đặt ở Mường Pồn, Bản Tấu và ba đội điều trị 2, 3, 5 bố trí làm tuyến sau cho quân y các đại đoàn 308, 312 và 316 (21).

Ngoài ba tuyến hậu cần nêu trên, hậu cần chiến dịch còn tổ chức hai tuyến vận tải hỗ trợ. Ở phía Nam, tuyến Mường Luân - Nà Sang do Cục phó Cục Quân khí Trần Thùy làm chỉ huy trưởng. Ở phía Bắc, tuyến Ba Nậm Hu vận chuyển gạo Trung Quốc viện trợ từ Ba Nậm Cúm chở bằng mảng về thị xã Lai Châu và bằng xe đạp thồ về Mường Pồn, Bản Tấu. Tuyến này do Tư lệnh Tây Bắc - Bằng Giang và Cục trưởng Cục Quân khí Nguyễn Văn Nam chỉ huy (21).

Với tinh thần tích cực của các lực lượng, đến ngày 11 tháng 3 năm 1954 công tác chuẩn bị cho chiến dịch theo phương án “đánh chắc, tiến chắc” đã kết thúc chu đáo, kịp thời điểm mở màn tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Cuộc chiến hậu cần





Khi trận đánh mở màn, cầu hàng không của quân Pháp nối Điện Biên Phủ với Hà Nội và Hải Phòng đã chạy hết công suất. Mỗi ngày có gần 100 máy bay vận tải Dacota DC3 chen chúc nhau hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh nhỏ bé để vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Ngoài ra, còn 30 máy bay vận tải lớn C-119 thả dù tiếp tế thêm 100 đến 150 tấn hàng (20).

Nhờ những nỗ lực to lớn trên, quân Pháp ở Điện Biên có dự trữ hậu cần là 9 ngày lương thực, thực phẩm; 8 ngày nhiên liệu, 27.400 viên đạn pháo 105mm, 2.700 đạn pháo 155mm, 22000 đạn cối, 9 cơ số hoả lực cho pháo 75mm của xe tăng. So với hậu cần của Pháp thì phía Việt Nam, dự trữ yếu hơn rất nhiều. đạn pháo 105mmm có 5000 viên, đạn cối 120mm có 2000 viên, đạn pháo 75mm có 3000 viên. Vì có rất ít đạn pháo nên đều dự trữ và dùng rất dè sẻn, riêng lương thực với khẩu phần ăn của bộ đội Việt Nam là 800 lương thực/ngày, thì gần như không có dự trữ mà phải vận chuyển liên tục từng ngày (24).

Trong lúc không quân Pháp tập trung máy bay oanh tạc quyết liệt lực lượng làm đường của bộ đội Việt Nam ở các tỉnh ven Điện Biên thì quân đội Nhân dân Việt Nam đã tập kích vào các trọng điểm giao thông phục vụ Điện Biên Phủ ở hậu phương quân Pháp trên đồng bằng Sông Hồng. Ba tháng đầu năm 1953, du kích và bộ đội địa phương đã đánh hỏng 35 đầu máy xe lửa, 340 toa tầu cùng hơn 100 xe tăng và xe cơ giới khác trên quãng đường sắt Hải Phòng - Hà Nội, phá hoại và làm tê liệt vận chuyển trên đường 5 suốt một tuần lễ giữa tháng 3. Trong hai trận đánh liên tiếp đầu tháng 3 năm 1954, cả hai sân bay Cát Bi và Gia Lâm bị tập kích, gần 80 máy bay bị phá huỷ, trong đó có cả máy bay ném bom B.26 và máy bay vận tải C.47 mới được Mỹ viện trợ (34).

Khi trận đánh mở màn chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ bắt đầu từ phân khu Bắc, thì cuộc chiến hậu cần với cả hai bên cũng trở nên rất quyết liệt. Sáng ngày 13 tháng 3 năm 1954, hai đại đội sơn pháo 75mm mới thử bắn hiệu chỉnh đã bắn cháy 2 máy bay vận tải, 2 máy bay tiêm kích trên sân bay. Cơ quan điều độ bay của căn cứ gửi điện về Hà Nội: “cấm hạ cánh xuống sân bay” báo hiệu nguy cơ cắt đứt cầu hàng không hai chiều với Điện Biên Phủ (24).

Sau ba ngày chiến đấu đầu tiên, quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã tiêu thụ gần nửa dự trữ đạn dược (12.600 đạn pháo 105 mm, 10.000 đạn cối 120 mm, 3.000 đạn pháo 155 mm); 11 súng cối 120 mm bị phá hủy và 4 khẩu pháo 105, 155 mm hỏng cần sửa chữa chưa kể đến các vật tư thiết yếu khác. Mất cứ điểm Him Lam, Độc Lập, chiến hào của quân đội nhân dân Việt Nam đã áp sát gần hơn đến khu Trung tâm, máy bay phải hạ cánh hết sức khó khăn chỉ vào ban đêm để di tản thương binh và giao hàng, những căn hầm y tế nhanh chóng trở nên quá tải.

Sau 5 ngày nổ súng, quân Pháp đã mất cả 3 căn cứ của phân khu Bắc, ngay lập tức lựu pháo và cao xạ của quân Việt Nam tiến vào cánh đồng Mường Thanh. Chỉ 10 ngày sau khi tấn công, pháo binh của Việt Nam đã khống chế hoàn toàn cả 2 sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm. Sau những nỗ lực vô vọng nhằm phản công tái chiếm lại các vị trí đã mất và sự xuất hiện bất ngờ và hiệu quả của pháo 105mm Việt Nam, các tướng lĩnh Pháp đã thấy vĩnh viễn không còn sử dụng được sân bay Mường Thanh. Từ ngày 28 tháng 3, Pháp chỉ còn tiếp tế được cho tập đoàn cứ điểm bằng thả dù và bộ đội Việt Minh tuy mới làm quen với súng máy phòng không, pháo cao xạ đã trở thành nỗi kinh hoàng với phi công Pháp và Mỹ. Trong đợt tấn công đầu tiên, 12 máy bay vận tải, máy bay chiến đấu đã bị bắn rơi trên bầu trời Điện Biên Phủ.

Chỗ yếu chí tử của hậu cần quân Pháp đã bị bộ đội Việt Nam khai thác tối đa, nếu họ không kịp thời khắc phục thì xu thế thất bại là không tránh khỏi. Chỗ dựa duy nhất của tuyến hậu cần quân đội Pháp là tổ chức thả dù tiếp tế. Ngày 22 tháng 3, Tổng thống Mỹ Aixenhao chỉ thị cho Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân Rátpho phải giải quyết cấp tốc các yêu cầu của Nava. Một cầu hàng không được Mỹ thiết lập từ các căn cứ quân sự Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philíppin rồi đến các sân bay Cát Bi, Gia Lâm để chở hàng hóa và bình sỹ lên Điện Biên Phủ, đáp ứng nhanh chóng mọi yêu cầu tiếp vận của quân Pháp (20).

Về phía mình, quân Pháp cũng quyết dành thế chủ động. Họ quyết đánh vào điểm yếu chí tử trên tuyến hậu cần Việt Nam – đó là con đường độc đạo dẫn vào trận địa Điện Biên Phủ. Lúc này mọi cố gắng nguỵ trang cho con đường đã trở nên không cần thiết. Hoàn toàn làm chủ không phận, trinh sát không quân cho thấy rõ toàn tuyến vận chuyển của quân đội Nhân dân Việt Nam, liên quân Pháp - Mỹ tập trung mọi lực lượng có trong tay để tấn công con đường này, trọng tâm là những “yết hầu” địa lý quan trọng như đèo Cà, đèo Khế, Mỏ Thổ, Pha Đin, Cò Nòi... Nava đã ra lệnh cho không quân “dành ưu tiên với mọi phương tiện tối đa cho việc hỗ trợ các lực lượng của chúng ta ở Tây Bắc. Tập trung vào việc đánh phá giao thông vận tải, đặc biệt là các ô tô vận tải hướng lên Tây Bắc” (30).

Thực hiện mệnh lệnh của Nava, Bộ chỉ huy không quân Pháp triển khai kế hoạch đánh phá các tuyến đường giao thông vận tải quan trọng. Pôn Ely đưa ra số lượng bom không quân Pháp oanh tạc mỗi ngày ở một số trọng điểm như sau:

  • - Êgơ (Tuần Giáo - Điện Biên): 13 tấn.

  • - Mêphít (Lai Châu - Sơn La): 17 tấn.

  • - Brutút (Cò Nòi - Yên Bái): 14 tấn.

  • - Baya (Cò Nòi - Yên Bái): 31 tấn.

  • - Riêng ngã tư Cò Nòi: 69 tấn (31).

Hàng chục tấn bom liên tục ném xuống ngày đêm vào những cung đường nhỏ hẹp, kéo dài vài chục km, cheo leo một bên là vách đá, bên kia là vực thẳm, chỉ cần đá lở hay đường sụt là giao thông bị cắt đã tạo ra những thử thách ghê gớm với lực lượng bảo đảm giao thông. Từ tháng 1 năm 1954 trở đi, các cuộc oanh tạc hệ thống đường dẫn đến Điện Biên Phủ ngày càng ác liệt. Có trận, quân Pháp dùng tới 39 máy bay B-26, năm máy bay Privateer và 21 máy bay khu trục thuộc Hải quân ném hàng trăm tấn bom... (20). Sau mỗi đợt oanh tạc dữ dội, các cung đường bị phá tan nát. Bộ đội và dân công phải làm đường vòng, khiến cho địa hình tuyến đường thay đổi hàng ngày. Chỉ trong hai tháng đầu 1954, tổ quan sát trên đoạn đường Cò Nòi đã phải vẽ lại sơ đồ con đường 19 lần (34).

Quân đội Pháp đưa đến Vịnh Bắc Bộ 2 tàu sân bay La Fayette và Arromanches, mỗi tàu chở theo hàng chục máy bay chiến đấu F6F Hellcat và SB2-C để tăng cường năng lực cho sân bay Cát Bi (Hải Phòng) và Bạch Mai (Hà Nội), trực tiếp tham gia đánh phá Điện Biên Phủ. Đến tháng 3, Mỹ đưa đến 25 máy bay F-4AU1 để thay cho các máy bay Pháp đã kiệt sức. Số lượng máy bay ném bom toàn Đông Dương từ đầu có 48 máy bay ném bom B26, 8 ném bom Privateer và 112 oanh tạc cơ chiến đấu Hellcat, Beercat và Corsair. Tổng số 156 chiếc cuối cùng đã tăng lên tới 227 chiếc (1). Hơn hai phần ba số máy bay trên (hơn 90 máy bay vận tải quân sự và 175 oanh tạc cơ) do tướng Dechaux trực tiếp chỉ huy để yểm trợ cho Điện Biên Phủ. Trung bình mỗi ngày, từ 75 tới 80 chiếc máy bay ném bom được dành cho mặt trận này. Cùng lúc đó, gần như tất cả những máy bay vận tải quân sự và vận tải loại Packet của Mỹ cũng được huy động vận chuyển cho Điện Biên Phủ. Việc vận tải cho những mặt trận khác hầu như chỉ do máy bay dân sự đảm nhiệm.

Ngày 24 tháng 3, 30 máy bay C-119 78 chỗ ngồi của hãng Hàng không vận tải dân dụng Mỹ (CAT) do thiếu tướng Claire Lee Chennault, người đứng đầu đội “phi hổ” trong chiến tranh Thế giới 2 thành lập và các chuyên gia quân sự Mỹ điều hành bắt đầu được huy động để ném bom napal xuống các mục tiêu ngoại vi Điện Biên Phủ (27). Mỗi máy bay mang 9 thùng, mỗi thùng chứa 90 bình napan. Loại vũ khí này không chỉ nhằm sát thương tàn bạo mà còn gây những đám cháy rừng tàn khốc để bộc lộ các vị trí được nguỵ trang kín đáo.

Ngoài bom phá, bom khoan để phá đường, nhiều loại bom đặc biệt được dùng để cản phá các hoạt động sửa chữa như bom bươm bướm ngụy trang lẫn trong cây rừng để sát thương công binh, bom Henliphơlít chứa hàng ngàn lưỡi câu thật sắc gây vết thương chân và chọc thủng bánh xe, bom nổ chậm với thời gian khác nhau để ngăn sửa chữa... Các chuyên gia Pháp còn nghiên cứu làm mưa nhân tạo bằng chất iốt bạc để tạo làm sụt lở đường xá trước khi mùa mưa đến (31).

Do lương thực cung cấp phải liên tục vận chuyển từ hậu phương hàng ngày trên trục đường kéo dài độc đạo với 40 điểm giao thông có thể bị cắt đứt (1), cuộc chiến không cân sức giữa lực lượng Việt Nam và không quân Pháp-Mỹ diễn ra rất ác liệt. Suốt chiến dịch, máy bay Mỹ Pháp đánh 1.186 trận, ngày cao nhất huy động 250 lần/chiếc máy bay ném bom đường giao thông của quân đội Việt Nam.

Ngay ở tuyến hậu phương, máy bay ném bom khống chế đèo Giàng để chặn đường từ Cao Bằng về, đánh đèo Khế chặn đường Thái Nguyên sang Tuyên Quang. Đặc biệt ở đèo Cà, máy bay và pháo binh Pháp đánh phá liên tục suốt 40 ngày đêm để chặt đứt con đường từ Lạng Sơn xuống. Trên tuyến chiến dịch, các đèo Lũng Lô, Pha Đin (có ngày 160 quả bom), các đầu mối giao thông Cò Nòi (có ngày 300 quả bom), Tuần Giáo trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt (2, 6, 29).

Cuối tháng 3 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi trực tiếp kiểm tra động viên thanh niên xung phong và dân công đang trụ bám ở đèo Khế. Để bảo vệ giao thông, 50% lực lượng phòng không ít ỏi của mặt trận (gồm hai tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mm, một số đại đội súng máy cao xạ 12,7 mm) được bố trí tại các trận địa bắn máy bay dọc theo tuyến đường vận tải. Bốn tiểu đoàn công binh và hàng vạn dân công ngày đêm bám đường khắc phục hậu quả đánh phá của địch (29). Ở các trọng điểm ném bom đều có đài quan sát suốt ngày đêm làm nhiệm vụ đếm số bom thả và đánh dấu vị trí bom nổ chậm, có các đơn vị chuyên phá bom và bộ phận chuyên sửa đường.

Dành quyền chủ động trong cuộc chiến hậu cần, bộ chỉ huy Việt Nam đi những bước chiến lược để khống chế, tiến đến phong tỏa cái “cuống rốn” của Tập đoàn cứ điểm - sân bay Mường Thanh. Sân bay giảm và ngừng hoạt động không chỉ làm giảm khả năng tiếp vận hàng đến xuống còn 30-50% so với trước, làm mất khả năng đưa thương binh, khí tài hỏng đi và làm giảm đáng kể hỏa lực hỗ trợ của không quân trên chiến trường. Khi sân bay tê liệt thì năm máy bay trinh sát SO30P là lực lượng chính để hướng dẫn máy bay oanh tạc bị vô hiệu hóa. Trong tình huống này, chỉ còn máy bay ném bom loại B - 26 và máy bay PB4-Y2 Privateer mới có trang bị thiết bị hiện đại để tự phát hiện rõ mục tiêu. Ngoài ra, máy bay chiến đấu Bearcats chỉ có thể bố trí để cất và hạ cánh ngay tại Điện Biên Phủ vì bán kính chiến thuật 250 km của chúng không cho phép bay được từ Hà Nội xa 300 km. Mất sân bay này cũng đồng nghĩa với việc loại khỏi vòng chiến các máy bay yểm trợ chiến thuật.

Trước tình hình đó, Tổng thống Mỹ phải gửi gấp đến Đông Dương thêm 10 máy bay ném bom B -26 và 200 kỹ thuật viên để duy trì hoạt động của chúng. Tuy nhiên bộ máy điều hành hàng không hiện đại của Pháp Mỹ tỏ ra kém linh động hơn chiến thuật của những người lính nông dân Việt Nam. Chu kỳ trinh sát - tổ chức hoạt động - kiểm tra kết quả tấn công diễn ra quá dài so với thay đổi của đối phương. Các thiết bị truyền thông hiện đại không giúp lực lượng không quân nâng cao được hiệu quả ném bom (32).

Với những nỗ lực phi thường trên, trong suốt thời gian chiến dịch kể từ lúc chuẩn bị trong mọi thời tiết và bom đạn ác liệt, lực lượng giao thông của quân đội nhân dân Việt Nam đã chỉ để đường bị tắc ở một số đoạn trong tổng số 37 đêm (29). Nava nhận xét: “Việt minh đã triển khai lực lượng dân công cần thiết ở gần trọng điểm hay bị đánh phá đế có thể sửa đưòng ngay sau khi bị cắt đứt. Tất cả những nỗ lực của không quân để ngăn trở việc sửa đường đều vô hiệu. Hiếm có đoạn đường nào bị cắt đứt quá 24 giờ. Hơn nữa thời gian bị cắt đứt việc vận chuyển vẫn được tiếp tục bằng chuyển tải đường vòng khác” (1). Trong khi lực lượng sửa đường chiến đầu kiên cường, lực lượng vận tải phục vụ chiến dịch liên tục hoạt động ở cả hai tuyến hậu phương và chiến dịch. Toàn bộ lực lượng cơ giới của quân đội nhân dân Việt Nam lúc đó có 6 đại đội với 534 xe ô tô vận tải đều được huy động phục vụ chiến dịch. Tuyến hậu phương của Tổng cục và hội đồng cung cấp mặt trận các liên khu sử dụng 7 đại đội, 182 xe, lúc cao nhất là 237 xe (do xe của tuyến chiến dịch lui cung về). Tuyến chiến dịch sử dụng 9 đại đội, 352 xe, có thời gian được tăng cường thêm 94 xe của các đơn vị pháo binh và phòng không.

Tổng số xe ô tô được huy động của cả quân đội và dân chính là 628 xe và hơn 800 lái xe (29). Tiền phương Tổng cục và Tổng cục ở hậu phương phối hợp chặt chẽ với nhau trong chỉ huy vận tải trong việc cung cấp xăng, dầu, phương tiện thay thế. Tùy điều kiện chân hàng, đường sá (do địch đánh phá) và phương tiện, có lúc hậu phương vươn tuyến ra phía trước, có lúc chiến dịch lùi cung về phía sau. Phong trào thi đua vượt cung, tăng chuyến, tiết kiệm xăng dầu, giữ gìn xe tốt sôi nổi ở các đơn vị (6). Điện Biên Phủ là chiến dịch đầu tiên xe cơ giới đóng vai trò chính trong vận tải. Kết quả tổng kết cho thấy trên 90% khối lượng vận chuyển bảo đảm cho chiến dịch là do vận tải cơ giới đảm nhiệm (13).

Cùng với vận tải cơ giới, nhiều tuyến vận tải bộ bằng dân công và phương tiện thô sơ đã được tổ chức từ hậu phương lên mặt trận. Chỉ tính riêng xe đạp thồ đã có hơn 20.000 chiếc (tuyến hậu phương 18.491, tuyến chiến dịch 2.500 chiếc). Để đưa nhanh gạo từ Phòng Tô bắt đầu về Lai Châu phải dùng dòng sông Nậm Na, dài hơn 100 km có đoạn sông dữ từ Bản Nậm Cúm đến Patăng chỉ dài chừng 20 km nhưng rất nhiều thác, lòng sông hẹp sẵn sàng đập tan và nhấn chìm mọi thứ trên sông. Để đưa hàng ngàn tấn gạo từ Bản Nậm Cúm qua Lai Châu về Điện Biên phải phá thác và đưa dân công lên đóng một vạn cái mảng để đưa gạo về Lai Châu bằng đường sông. Trung đội công binh của Phan Tư đã dầm mình dưới nước giữa mùa đông Tây Bắc dùng mìn phá gần 100 cái thác.

Việc chuyển gạo trên sông từ Bản Nậm Cúm về Pa Tầng được giao cho đại đội dân công gái huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ đóng 11.600 bè mảng (29). Lúc đầu, 4 người phụ trách một mảng, chở 1,2 đến 1,5 tạ, mất 2 ngày xuôi về giao hàng ở Pa Tầng, 1 ngày đi bộ ngược trở lên Bản Nậm Cúm, năng suất 10 kg/ người/ngày. Số người phụ trách một mảng rút xuống 2 rồi 1 người, mỗi mảng nâng lên 3 tạ và thời gian rút ngắn lại, mỗi ngày một chuyến, cả đi và về, nhờ vậy đã đưa gần 2.000 tấn gạo về Lai Châu trước thời gian quy định.

Bảo đảm vật chất đủ, kịp thời mọi nhu cầu cho chiến dịch là mấu chốt thành công của công tác hậu cần (6). Chỉ huy hậu cần Hoả tuyến Nguyễn Thanh Bình kể: Ban ngày chỉ thấp thoáng mấy người trên nương, vài trâu bò gặm cỏ ở sườn đồi như một vùng hoang vắng. Khi đêm buông xuống thì đầy đường ô tô, dân công, đèn xe thồ như sao sa. Dân công miền xuôi, miền ngược, Tày, Nùng gánh, Thái, Dao gùi. Tiếng động cơ, tiếng nói cười, tiếng hò nhộn nhịp. Đông đúc nhất là tuyến đường độc đạo từ Tuần Giáo đến Điện Biên dân công Khu 3 gặp Khu 4, vùng tự do gặp vùng địch tạm chiếm, bộ binh gặp công binh, bộ đội gặp văn công chào hỏi, cười nói. Chợt nghe tiếng động cơ máy bay là đèn đuốc tắt hết.

Hàng đêm, trên mặt trận Điện Biên, cuộc chiến hậu cần thể hiện hai thái cực trái ngược: trong lòng chảo, hàng trăm máy bay hiện đại lượn kín trời thả pháo sáng rực, đưa xuống hàng ngàn chiếc dù như mưa tuyết để tiếp tế lương thực, vũ khí xuống các cứ điểm quân Pháp. Chỉ cách đó vài km, một đoàn người khổng lồ hàng trăm ô tô chạy giữa hàng vạn đàn ông, đàn bà, trẻ có, già có,đi chân đất, gồng, gánh, gùi, đẩy xe thồ, xe trâu, xe ngựa, xe cút kít, xe quệt, chen vào là những đàn trâu bò nghênh ngang, những con lợn chạy lon ton như trong chiến tranh thời trung cổ (2). Thế nhưng trong khi các phương tiện hiện đại và khối viện trợ đồ sộ ngày càng bất lực trước hoả lực đối phương thì sức mạnh tàn bạo của bom đạn ác liệt không cản nổi quyết tâm của những người dân nghèo khổ gom góp lượng vật lực nhỏ bé đem bằng được cho chiến trường.

Tướng Pháp Y. Gras ca ngợi: “Cả dân tộc đã tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính cũng như dự kiến của Bộ tham mưu Pháp” (28)“…Toàn bộ máy bay có thể huy động đều được sử dụng vào việc tiến công con đường tiếp tế đường 13 và đường 41. Thế nhưng trong các chuyến bay trinh sát cũng như ném bom, các phi công chỉ thấy toàn là rừng rậm đơn điệu, bạt ngàn vô tận. Bay trên lãnh thổ của Việt Minh, họ có cảm giác về một sự trống rỗng. Đôi khi trong chớp mắt, họ bắt chợt bắt gặp một đoàn dân công trên một đoạn đường vòng. Nhưng ngay lập tức dân công bỏ lại hàng hoá và chạy tản ra dưới các lùm cây. Máy bay quay lại, ném bom bắn phá, nhưng sau đó, khi máy bay đã đi khuất “đàn kiến” lại trở về với công việc... Người ta nghĩ ràng trút hàng trăm tấn bom xuống hàng chục địa điểm có thể ngăn chặn bước đi của dòng dân công bất tận đó. Nhưng ngay sau khi con đường bị cắt đứt thì họ đã chuyển tải, mở những đường đi vòng, trong lúc một lực lượng chuyên trách cứ lấp các hố bom và sửa chữa con đường. Thế là chung quanh những quãng đường bị cắt, con đường đương được nhân lên thành một mạng đường vòng giống như một con sông mà người ta cố ngăn chăn, lại tìm được dòng chảy của nó bằng cách uốn quanh và biến thành những con suối. Không quân Pháp đã bất lực trong việc chống lại sự thô sơ của hậu cần Việt Minh: con đường không bao giờ dứt (34).”

Tổng chỉ huy Pháp ỏ Đông Dương Nava viết: “Tấn công các đường giao thông đã đem lại từ đầu chí cuối những kết quả thất vọng nguyên do Việt Minh đã vượt trở ngại việc cắt đường, họ sửa rất nhanh trong mọi trường hợp khiến ta không thực hiện được. Chúng ta đã không ngăn chặn hay –ít nhất làm chậm lại – sự bố trí của Quân đoàn địch quanh Điện Biên Phủ, ta đã không làm chậm lại việc tiếp tế đều đặn của địch. Sự yếu kém về phương tiện của ta là nguyên nhân chính của sự thất bại này.Sau cùng cách ngụy trang khéo léo và phân tán của Việt Minh, khả năng thích hợp, tài sửa đường nhanh chóng khi bị phá hủy khiến cho nhiệm vụ không quân càng phức tạp hơn. Như thế, thiếu phương tiện và sự lệ thuộc vào việc xử dụng, không quân đã không đóng vai trò quyết định trong bất cứ giai đoạn nào của cuộc chiến (1).”

Ngay từ những ngày đầu của đợt tấn công 1 quân Pháp đã nhận ra những tính toán sai lầm của họ và nguy cơ thất bại, nhưng họ vẫn tăng cường cầm cự đến mức tối đa với hy vọng khi mùa mưa đến Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ không thể giải quyết nổi vấn đề hậu cần và phải bỏ cuộc.

Đến 18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công tiếp theo vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu. Các cao điểm phía đông E, D1 thuộc trung tâm đề kháng Đôminích, và các cao điểm C1, C2, A1 thuộc trung tâm đề kháng Eliane lần lượt rơi vào tay quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong đợt tấn công này, chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho các cấp phải áp dụng các biện pháp bảo đảm quân số khi mùa mưa đã bắt đầu. Chủ trương đề ra là “Phải bình thường hóa sinh hoạt của bộ đội trong chiến hào” (34). Bộ đội được tổ chức ở hầm theo tổ ba người, đào giếng ở dưới hầm hào. Mỗi tiểu đội phải có một giếng, nước rửa đủ. Hàng tuần, mỗi người được tắm từ một đến hai lần. Công sự được đào sâu, mở rộng thêm. Đất moi lên, đắp cho công sự thêm dày, thêm vững. Nền hầm của tổ 3 người, hầm tiểu đội được lát gỗ, lát tre. Trần và bốn mặt hầm được nẹp vải dù, trang trí thêm những bức tranh cắt từ họa báo những bông hoa rừng cắm vào đui đạn đồng.Các đường hào khó đi được sửa lại, dốc thì có bậc lên xuống có tay vịn, chỗ hẹp được mở rộng, đi lại dễ dàng. Ngoài hầm được tổng vệ sinh đào thêm rãnh thoát nước. Các hố tiêu, hố tiểu cũ được lấp đi, đào hố mới, có nắp đậy kín. Rác rưởi trống hào quét sạch (34).

Trước đây, anh nuôi ở phía sau, đường tiếp tế khó khăn. Bộ đội phải ăn cơm nắm, thức ăn nguội, canh không đủ, nước uống thiếu. Do sáng kiến của đồng chí Xuân Yến, bếp “Hoàng Cầm” đào sâu gần 2 mét, rộng 3 mét, nắp dày 1 mét rưỡi. Ống khói đi ngoằn nghèo gấp khúc, đào vào thành hào, lấy đất ướt trát kín thành ống dẫn khói, che kín khói lửa. Nhờ vậy, bộ đội được ăn hai bữa cơm nóng, canh nóng, nước chín ngon lành.. vệ sinh răng miệng, thay nhau về sau tắm giặt, phòng dịch bệnh, ngâm chân nước muối dưới hố lót ni lông... có hầm hào cho kho hậu cần chống ẩm ướt.

Quân đội Pháp đã từng biết kinh nghiệm khủng khiếp trong lịch sử của “cuộc chiến tranh hầm hào” trong chiến tranh Thế giới thứ nhất ở châu Âu với số người chết vì dịch bệnh và chấy rận nhiều hơn vì bom đạn, tuy nhiên họ đã thất bại trong việc tổ chức cuộc sống ở Điện Biên Phủ. Công sự của họ được xây dựng nhằm phục vụ chiến đấu trong thời gian ngắn mùa khô đã không được hoàn chỉnh cho cuộc chiến kéo dài sang cả mùa mưa. Kỷ luật kém và tinh thần chiến đấu bạc nhược đã đãn đến cách sống vô tổ chức của binh sỹ và cả các nhóm bỏ ngũ tại chỗ sống chui nhủi được gọi là “những con chuột Nậm Rốm”.

Chiến thuật bắn tỉa của bộ đội Việt Nam và tính toán sai lầm về công tác chuyển thương làm cho thương binh quân Pháp dồn ứ trong công sự, các căn cứ chiến đấu trở thành “địa ngục sinh hoạt”. Ruồi nhặng và chuột khắp nơi, thương binh chen chúc trên giường ba tầng, sáu người trong một căn hầm nhỏ, máu mủ chảy xuống những người nằm bên dưới. Rác rưởi, chất thải chôn ngay trong đường hầm, khi trời mưa lại lềnh bềnh nổi lên (24). Binh lính bị thương băng bó, lở loét, mùi hôi thối nồng nặc, ỉa đái, chôn cất người chết bừa bãi, tranh cướp dù tiếp tế thực phẩm, lấy nước uống dưới sông chứng tỏ sự thất bại trong cuộc chiến hậu cần.

Đầu tháng 4 năm 1954, trận chiến đấu gay go nhất trong khu Trung tâm diễn ra trên đồi A 1, quân đội Nhân Dân Việt Nam đã tung vào đây 2 trung đoàn thiện chiến nhất nhưng sau 4 ngày dành dật quyết liệt vẫn bị địch đẩy lùi. Bộ đội bị thương vong nặng do pháo và quân Pháp phản kích. Do vòng vây đã thu hẹp, hai bên quần nhau bằng hỏa lực trên địa bàn lộ liễu phơi ra giữa cánh đồng. Số đạn pháo 150mm ít ỏi của Việt Nam (chỉ có 3600 viên do Trung Quốc viện trợ, còn chủ yếu là 11000 viên thu của Pháp trong chiến dịch Biên Giới) nay đã cạn. Mục tiêu giành dật đã tập trung lại, nên dù mất mát nhiều, nhưng quân Pháp có thể sử dụng hiệu quả hơn tiếp tế qua thả dù. Quân số và khí tài hao hụt của họ nhanh chóng được bù đắp hàng đêm (24). Hai bên dàn quân trên cánh đồng trống trải, quân Pháp có thể phát huy được lợi thế về pháo binh và không quân, Quân đội Nhân Dân Việt Nam đóng trong hầm hào lúc này không còn lợi thế về bí mật và cơ động. Lực lượng Pháp vẫn còn gần một vạn lính và gần ba chục cứ điểm liên hoàn.

Tháng 4 là lúc mùa mưa đã đến, cuộc đọ sức hậu cần của cả hai phía đã trở nên rất gay go. Phía quân Pháp gặp khó khăn về bổ xung quân số và nhất là khó duy trì khả năng tiếp tế hàng không. Ngược lại, có thể duy trì cường độ đánh phá bằng không quân ở mức cao. Phía Việt Nam gặp khó khăn cả trong việc duy trì tốc độ tiếp tế cho mặt trận với nhu cầu ngày càng cao trong điều kiện đường xá bị mưa và bị máy bay địch ném bom vừa cả trong việc tập trung nguồn hàng, bổ xung bộ đội.

Các cung đường bị đánh bom nát khi gặp mưa trở thành những bãi sình lầy dài hàng chục km. Xe tải sa lầy ngày càng nhiều. Các vùng hậu phương đều không có nhiều lương thực. Cung cấp gạo rất khó khăn, lương ăn cho bộ đội phải tính từng ngày. Nếu đứt ngày nào là đói. Bộ Tham mưu phải làm một cuốn sổ theo dõi lượng vận chuyển hàng hậu cần hàng ngày. Trong hầm chỉ huy của Tổng tư lệnh treo một biểu đồ vận chuyển gạo ra mặt trận và cập nhất thông tin gạo nhập về kho đêm trước (24). Mối lo của Chủ nhiệm cung cấp mặt trận từ đầu chiến dịch đang trở thành hiện thực.

Sau một đợt tấn công, bộ đội Việt Nam lại phải ngừng lại chờ đạn, gạo từ hậu phương lên bổ xung cho trận đánh mới. Đạn pháo từ Trung Quốc chở sang, không thể viện trợ kịp trong vòng 1 tháng, chỉ còn 400 viên đạn thu được của Pháp ở Trung Lào, chuyển đến nơi cũng phải mất nhiều ngày. Binh lực cũng trở nên thiếu hụt. Bộ đội và cả cán bộ chỉ huy thương vong nhiều phải bổ xung bằng tân binh ít kinh nghiệm chiến đấu tình hình trên khiến cường độ tấn công chậm lại dần. Trong khi cả hai bên đều kiệt sức, ai hụt hơi trước sẽ thua. Bởi vậy Bộ chỉ huy Việt Nam cố gắng áp dụng cách đánh mới nhằm tiết kiệm tiêu hao đạn dược và sinh mạng mà lại đẩy quân địch vào thế khốn khó vì thiếu tiếp vận sớm hơn quân mình.

Để tạo bước đột phá mới cho chiến trường, ngày 6 tháng 4, Ban chỉ huy chiến dịch tổ chức họp kiểm điểm đợt tấn công thứ hai quyết định đẩy mạnh cuộc chiến hậu cần: thay vì tấn công trực diện, chuyển sang đào hào lấn chiếm, chia cắt sân bay, cắt hẳn dạ dày của Tập đoàn cứ điểm, tập trung hỏa lực bắn máy bay, đoạt dù tiếp tế, đẩy đối phương vào thế khó khăn về lương thực, nước dùng và đạn dược. Khác với “cuộc chiến tranh hầm hào” châu Âu chủ yếu để phòng ngự, hệ thống giao thông hào của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến dần, bao vây và siết chặt các vị trí của Pháp.

Tuyến chiến hào dài khoảng hơn 100 km gồm hai cấp: đường vành đai (đáy rộng 1,2 mét) vòng bao quanh toàn bộ phân khu trung tâm để cơ động pháo, vận chuyển thương binh, điều động bộ đội và các đường hào chạy từ những vị trí trú quân của đơn vị (có chiều sâu 1,7 mét, đáy rộng 0,5 mét) từ trong rừng đổ ra cánh đồng cắt ngang đường hào trục, bảo vệ bộ đội tiến vào cận địch. Hàng vạn bộ đội lao động cật lực từ 14 đến 18 tiếng mỗi ngày dưới bom pháo. Chiến hào vây lấn vào sát vị trí quân Pháp, cắt ngang sân bay, đến tận chân lô cốt, thu hẹp khu vực kiểm soát của quân Pháp (24).

Vòng vây thu hẹp, tiếp tế và tiếp viện trở nên cực kỳ khó khăn. Độ cao thả dù phải giảm từ 2400 xuống còn ft 1200 ft. Nhưng hoả lực phòng không ngày càng tập trung, lại gây nguy hiểm ngày càng tăng cho máy bay. Riêng trong ngày 26 tháng 4, 50 máy bay trúng đạn trên bầu trời Điện Biên Phủ và 3 chiếc bị bắn hạ, trong đó có một máy bay B-26 Invader và hai chiếc F6F Hellcat của hạm đội 11, do phi công Mỹ lái. Theo số liệu của Bộ Không quân và thủy phi cơ Quân đội Pháp, thiệt hại tại mặt trận ĐBP gồm 36 máy bay bị phá hủy, 150 máy bay bị trúng đạn phòng không, 79 người bị giết và mất tích (1)

Vì thiệt hại nặng, từ ngày 27 tháng 4, nhiều máy bay ban ngày phải thả dù ở độ cao 8000 ft bằng dù mở chậm và cố dùng máy bay C-119 thả dù ban đêm ở độ cao 2000 or 4000 ft nhằm giữ an toàn cho phi công. Vì thế hàng thả xuống ngày càng ít mà phần lớn rơi vào tay quân Việt Nam. Trung bình trong chiến dịch, khối lượng thả dù không vượt quá 117 tấn một ngày trong khi yêu cầu tiếp viện phải là 250 tấn/ngày (32).

Một trung đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một tuần đã thu được 776 dù với đủ cả đạn, gạo, đồ hộp, sữa, dầu hỏa... Số hàng này Pháp đã phải dùng khoảng 30 chuyến Dacota để chuyên chở lên. Tổng số đạn pháo thu được hơn 5.500 viên, cung cấp đủ 1/3 kho đạn của quân đội nhân dân Việt Nam. Cuốn “Nhật ký chiến sự” của Giăng Pu-giê ghi nhận: “Có tới 50% kiện hàng rơi ngoài bãi thả. Ngày 1-4, hơn một nửa số hàng thả rơi ngoài vị trí. Ngày 6-4, hơn mười khẩu pháo không giật 75mm thả xuống Điện Biên, lính Pháp chỉ thu được hai khẩu. Ngày 9-4, trong tổng số 195 tấn hàng tiếp tế đã thả chỉ thu được... 6 tấn. Ngày 13-4, máy bay C-119 Mỹ “trút toàn bộ số đạn pháo 105mm xuống trận địa Việt Minh”. Ngày 18-4, hơn 30 tấn hàng “rơi lạc” sang trận địa Việt Minh. Ngày 27-4, có tới 70% số dù hàng rơi lạc mục tiêu. Ngày 5-5, hầu hết số hàng do C-119 thả xuống đều rơi xuống trận địa Việt Minh.”

Từ giữa tháng tư, chiến hào bộ đội Việt Nam đào lấn sát cắt cả đường tiếp nước uống, lương ăn vào căn cứ Huguette 1 và 6. Các căn cứ bảo vệ lần lượt thất thủ, sân bay bị chiếm. Chỉ còn 1 trong 10 xe tăng hoạt động được, 4 khẩu pháo 155mm chỉ còn 1 sử dụng được, 24 khẩu 105mm chỉ còn lại 24 khẩu. Ngày 10 tháng tư, Đờ Cát phải ra thông tư 239/PC nói rằng: “…Những nhu cầu về tiếp tế đạn dược bắt buộc phải rút xuống đến mức tối thiểu yêu cầu hàng ngày về lương thực… Các ông chỉ huy các cứ điểm chịu trách nhiệm về việc thu hồi trong phạm vi của mình… Mỗi cứ điểm phải cử ra một trung đội có một sĩ quan chỉ huy chịu trách nhiệm giữ trật tự về việc thu hồi. Kẻ nào bị bắt quả tang ăn cướp sẽ bị bắn ngay, không cần xét xử gì cả. Lệnh này phải được thi hành một cách nghiêm ngặt ngay lập tức…” (34).

Mỹ và Pháp bàn nhau các phương án đánh vào hậu phương, triệt phá gốc rễ hậu cần của quân đội Nhân dân Việt Nam để cứu nguy cho Điện Biên Phủ, các phương án được tính đến bao gồm cả việc sử dụng 3 sư đoàn không quân chiến lược oanh tạc hay sử dụng 8 sư đoàn bộ binh, thậm trí việc sử dụng 3 quả bom nguyên tử cũng được đưa ra nghiên cứu nhằm đánh thẳng vào hậu phương đối phương, triệt đường tiếp vận. Trong khi những kế hoạch trên không bao giờ thành hiện thực thì ngay tại hậu phương của quân Pháp, nhân dân tích cực đóng góp cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nava viết: “Trong vùng quân ta kiểm soát thì họ vẫn có một uy quyền bí mật, đánh bại được uy quyền của ta và cho phép họ thu được một quân bổ sung ở đó, họ chở ra rất nhiều gạo, muối vải mà họ cần dùng, họ mua sắm ở đó những chiếc xe đạp có tác dụng lớn trong công việc tiếp tế, các loại thuốc men cần thiết cho ngành y tế của họ, những hòm pin điện lắp vào mìn để giết hại binh sĩ chúng ta...”

Đúng vào lúc hậu cần trên chiến trường rất khó khăn thì thêm mười vạn dân công, từ vùng đồng bằng trù phú của tỉnh Thanh đến các bản mường hẻo lánh của Tây Bắc, từ vùng tự do Cao Lạng xa xôi đến vùng đồng bằng trung du còn bị tạm chiến, nô nức lên đường, tiếp tục đợt phục vụ mới. Từ Khu IV ra, từ Bản Nậm Cúm về, từ Việt Bắc sang, hướng về một điểm: Điện Biên Phủ. Một dòng vô tận dân công, xe đạp thồ, xe vận tải các loại, chỉ trong một thời gian ngắn đã rót ra tiền tuyến trên 4.000 tấn gạo, trên 300 tấn gà, vịt, lợn, bò…

Trong đợt huy động này, tỉnh Thanh Hóa nhân dân đang đói ăn vì mùa màng khó khăn vẫn hết lòng vì tiền tuyến. Số người và của mà tỉnh Thanh dốc ra phục vụ tiền tuyến chiếm 80% tổng số dân công, 80% xe đạp thồ, 50% tổng số gạo, 40% tổng số thực phẩm…Đồng bào Tây Bắc, kinh tế nghèo nàn lại bị địch vơ vét cũng góp từng thúng thóc, từng con gà để nuôi bộ đội. Và cuối cùng 400 viên đạn từ Lào đã vượt hàng ngàn km tới mặt trận cùng với 5000 viên thu được từ địch thả dù, củng cố kịp hỏa lực cho đợt công kích cuối cùng.Từ khoảng trung tuần tháng tư, nhờ sự chi viện hết lòng của nhân dân hậu phương, kho đạn, kho gạo dần dần đầy lên. Những ngày nóng bỏng của công tác hậu cần tiếp tế đã trôi qua (5, 24, 34).

Trưa ngày 1 tháng 5 năm 1954, pháo các cỡ bắn mãnh liệt mở đầu đợt tiến công thứ 3. Lần đầu tiên hỏa tiễn H6 của Liên Xô xuất trận, cụm pháo binh ở Hồng Cúm bị tê liệt, các kho hậu cần chứa 3.000 viên đạn pháo nổ tung, kho lương thực, thực phẩm bốc cháy... Tiếp theo đó, các cứ điểm: 505, 505A, 506, 507, 508, 310F ở phía đông, 311A, 311B ở phía tây và cuối cùng là khu C Hồng Cúm bị chiếm lĩnh.

Mọi hy sinh, cố gắng của quân đội nhân dân Việt Nam đã đem lại kết quả cuối cùng. Đúng 5 giờ 30 chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, gần 11.000 quân Pháp còn lại tại Điện Biên Phủ đã hạ vũ khí đầu hàng. Ban chỉ huy hậu cần tiếp tục lo cái ăn cho thêm 10000 tù binh và cứu chữa cho hàng ngàn thương binh địch.

Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng đã kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của nhân dân ta. Thắng lợi to lớn và vĩ đại này đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnever, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp. Góp phần vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc, cán bộ, chiến sĩ Ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam đã bảo đảm cho chiến dịch: so với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh ban đầu, thực tế thực hiện trong cả chiến dịch lương thực thực phẩm tăng gấp 3 lần, vũ khí súng đạn gấp 4 lần. Đội quân vận tải chuyển lên mặt trận khối lượng lớn vật chất kỹ thuật: 25.056 tấn gạo (7.310 tấn tại chỗ), 965 tấn thịt (389 tấn tại chỗ), 859 tấn thực phẩm khô và 800 tấn rau tươi khai thác ở các bản. Vũ khí chuyển lên được 1.450 tấn (gồm 1000 tấn đạn pháo, hỏa tiễn, cối các loại và 450 tấn đạn bộ binh, bộc phá, mìn, lựu đạn) (14). Tổng số lương thực, thực phẩm huy động ở các địa phương Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Thanh Hóa được 23.126 tấn gạo, 992 tấn thịt, 800 tấn rau, 266 tấn muối và 917 tấn thực phẩm khác (5). Các tỉnh đã huy động 20 vạn dân công, thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch. Riêng đối với việc chống phá hoại và cải tạo đường, mở đường đã thu hút 89.895 người (bằng 3.254.120 ngày công).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Chưa bao giờ suốt mấy năm kháng chiến nhân dân ta đã đóng góp công sức nhiều như trong Đông Xuân 1953-1954 để chi viện cho quân đội đánh giặc...”. Tướng Nava cũng phải thán phục: “Người ta chỉ có thế thừa nhận nỗ lực phi thường của nhân dân phục vụ bộ đội và nghiêng mình trước hiệu quả mà Bộ Chỉ huy và Chính phủ Việt Nam đã biết cách tạo nên” (1).

Cuộc chiến đấu hậu cần giữa hai bên trong chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra quyết liệt không phải là một trận đấu sức mạnh mà là đấu trí thông minh và lòng dũng cảm. Ngay từ đầu, cả hai bên biết rõ về điểm mạnh, điểm yếu của nhau và quyết khai thác chúng có lợi cho mình. Tuy nhiên ngay từ phút đầu, phía quân đội Nhân dân Việt Nam đã dành thế chủ động, liên tục tạo ra các yếu tố bất ngờ cho đối phương về cách đánh, phương tiện, quyết tâm và lòng quả cảm. Cuộc chiến càng kéo dài, tương quan lực lượng càng nghiêng dần về phía Việt Nam mà không có cách nào quân đội Liên hiệp Pháp có thể cân bằng lại. Sức mạnh chính nghĩa của cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc chính là cội nguồn của thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tài liệu tham khảo

1. Nava. Agonie de l’Indochine, Đông Dương Hấp Hối,


2. Nguyễn Thanh Bình. Suy nghĩ về hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ


3. Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb QĐND, Hà Nội, 1974.


4. Nguyễn Văn Rinh. Điện Biên Phủ - trận đánh thế kỷ và vai trò của công tác bảo đảm hậu cần.


5. Cao Văn Bình. Công tác tổ chức cung cấp và nuôi dưõng bộ đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ.


6. Nguyễn Văn Dũng. Hậu phương hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Ph.


7. Hoàng Anh Tuấn. Bảo đảm kỹ thuật một nhiệm vụ quan trọng trong chiến dịch 68 Điện Biên Phủ


8. Ngô Huy Hồng. Từ kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, chỉ đạo hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ, suy nghĩ về xây dựng cơ quan tham mưu hậu cần chiến lược hiện nay


9. Nguyễn Thế Trị. Vai trò hậu phương trong chiến dịch Điện Biên Phủ.


10. Chu Tiến Cường, Trịnh Văn Luận. Công tác bảo đảm quân y trong chiến dịch Điện Biên Phủ


11. Bùi Xuân Chủ. Bài học về hậu cần nhân dân trong chiến dịch Điện Biên Phủ được phát triển trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.


12. Nguyễn Minh Đức. Công tác đảm bảo của Hậu cần hoả tuyến trong chiến dịch Điện Biên Phủ


13. Đổng Minh Tại. Công tác vận tải chiến dịch Điện Biên Phủ - đỉnh cao của nghệ thuật vận tải chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp


14. Nguyễn Việt Phương. Nhân tố hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ


15. Giuyn Roa, Trận Điện Biên Phủ trong con mắt người Pháp, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.


16. Maicơn Mắc Clia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày. Thames Methuen, 1981 Trung tâm KHKTQS dịch, 1984.


17. Trịnh Vương Hồng. Hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh nét tương đồng, sự kế thừa và phát triển sáng tạo


18. Đặng Huyền Phương. Cầu đường và vận tải tiếp tế trong chiến dịch


19. Đỗ Hữu Lê. Quân và dân Tây Bắc với công tác đảm bảo hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ.


20. Vũ Tăng Hồng. Hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ - nhìn từ hai phía


21. Hà Minh Hồng. Về phân tuyến và bố trí lực lượng hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ


22. Trần Văn Thức. Viện trợ quốc tế về hậu cần đối với chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ


23. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chốngthực dẫn Pháp 1945-1954, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1994.


24. Hữu Mai. Không phải huyền thoại. NXB, Trẻ 2011.


25. Thời điểm của những sự thật (trích hồi kí Navarre về Điện Biên Phủ/ Herri Navarre. NXB: Công an nhân dân, 1994


26. Dr. Ronald H. Spector ''Advice and Support: The Early Years,'', dẫn theo The NewYork time 14/2/1984.


27. Air force margagin. Vol 87, N8. August 2004. By Rebecca Grant Dien Bien Phu Contributing Editor. The great 1954 battle sucked US airmen into Indochina and helped set the stage for the Vietnam War.


28. Y. Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương (1945-1954), Tài liệu dịch Thư viện Quân đội.


29. Bộ Quốc phòng Tổng Cục Hậu cần. Lịch sử Hậu cần quân đội nhân dân Việt Nam Tập 1 (1944-1954) NXB Quân đội Nhân dân Hà Nội 1995.


30. P.Rôcôn - Vỉ sao Điện Biên Phủ? Tài liệu Thư viện Quân đội dịch


31. Pôn Ẻly - Đông Dương trong cơn lốc, Pari, 1964. Thưviện Quân đội.


32. (http://www.mission4today.com/index.php?name=ForumsPro&file=viewtopic&t=851&start=0&finish=15&printertopic=1)


33. Công tác vận tải và những kinh nghiệm vận dụng các phương thức vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ


34. Điện Biên Phủ truyện kể với bạn bè. Đại tá Trần Trọng Trung. NXB Hà Nội. 1981.


35. Võ Nguyên Giáp – Điện Biên Phủ, in lần thứ 6, Nxb QĐND Hà nội, 1979,


For more information regarding this website or its content please contact: [email protected]