Điện Biên Phủ 1954 ChaptersCác chương SourcesTài liệu
Chapter 1Chương 1

Mustering the ForcesChuẩn bị lực lượng

Paratroopers fall from the sky as both sides race to build up men, guns and supplies.Lính dù đổ xuống thung lũng, hai bên chạy đua chuẩn bị người, súng và hậu cần.

0:00

English narration · switch to VI for the Vietnamese versionThuyết minh tiếng Việt · chọn EN để xem bản tiếng Anh

Listen to this chapterNghe toàn chươngRead aloud · 9 minĐọc toàn văn · 7 phút

To prepare for this critical campaign, both sides made fairly meticulous logistical plans. On 20 November, the French used 63 Dakota C-47 aircraft flights to drop 2 battalions and 1 light airborne regiment with 3,000 paratroopers and ordnance into Điện Biên Phủ. Two days later, on 21 and 22 November, 3 airborne battalions and an artillery company were successively dropped. After only 4 days, the old Mường Thanh airfield had been repaired for use. Six fighter aircraft and reconnaissance planes began to be stationed at the airfield. The airlift supplying the fortified complex was officially operational.

Để chuẩn bị cho chiến dịch quan trọng này cả hai bên đều lên kế hoạch hậu cần khá chu đáo. Ngày 20 tháng 11, quân Pháp cho 63 chuyến máy bay Dakota C-47 thả 2 tiểu đoàn và 1 trung đoàn dù nhẹ với 3.000 lính dù và quân cụ xuống Điện Biên Phủ. Hai ngày sau, ngày 21 và 22 tháng 11, liên tiếp 3 tiểu đoàn dù cùng một đại đội pháo binh được thả xuống. Chỉ sau 4 ngày, sân bay cũ Mường Thanh đã được sửa chữa để đưa vào sử dụng. Sáu máy bay chiến đấu và các máy bay trinh sát bắt đầu đóng tại phi trường. Cầu hàng không cung cấp cho Tập đoàn cứ điểm đã chính thức hoạt động.

Paratroopers board a C-119 Packet aircraft at Cát Bi airport to head to Điện Biên
Paratroopers board a C-119 Packet aircraft at Cát Bi airport to head to Điện BiênQuân nhảy dù lên máy bay C-119 Packet ở sân bay Cát Bi để trở lên Điện Biên

With direct reinforcement, goods and ordnance poured in en masse by the French to rapidly construct the base. A vast volume of construction materials such as cement, iron and steel was transported in; barbed wire alone amounted to 3,000 tons. Equipment serving the daily life and combat needs of tens of thousands of troops was swiftly provided. A series of special weapons for defense in depth were brought in, such as explosives, mines, incendiary bombs, gas masks against smoke shells, infrared devices… even quad-barrel anti-aircraft guns and flamethrowers were equipped to create suppressive firepower. Knowing that the Vietnamese forces already had artillery, a 155 mm artillery unit specifically used for counter-battery fire was equipped…1

Có tiếp viện trực tiếp, hàng hoá quân cụ được quân Pháp kìn kìn chở tới để nhanh chóng xây dựng căn cứ. Một khối lượng lớn vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép được vận tải đến, chỉ tính riêng dây thép gai đã lên đến 3,000 tấn. Các trang bị phục vụ sinh hoạt và tác chiến cho hàng vạn quân được nhanh chóng trang bị. Hàng loạt vũ khí đặc biệt dành cho phòng ngự chiều sâu đã được trở tới như thuốc nổ, mìn, bom lửa, mặt nạ che đạn khói, máy hồng ngoại tuyến…ngay cả súng phòng không 4 nòng, súng phun lửa cũng được trang bị để tạo hoả lực uy hiếp. Biết bộ đội Việt Nam đã có pháo binh, một đội pháo 155 mm chuyên dùng để phản pháo đã được trang bị,…1

Dakota C47 aircraft, the main cargo transport vehicle for Điện Biên Phủ
Dakota C47 aircraft, the main cargo transport vehicle for Điện Biên PhủMáy bay Dakota C47, phương tiện vận chuyển hàng chính cho Điện Biên Phủ

French troop strength in Điện Biên Phủ increased rapidly. By 3 December, there were 9 battalions and two artillery units, then increasing to 10, 11, and finally 12 battalions, 10 M-24 tanks, three 105 mm and 155 mm artillery batteries, along with 4 120 mm mortar battalions, totaling 16,200 personnel pouring into the Điện Biên basin. Accompanying the combat forces were combat-supporting equipment, ammunition, materiel, fuel, food, and medicine. By 13 March 1954, the fortified complex had accumulated reserves of 9 days of food, 8 days of gasoline fuel, 6 units of ordnance for firepower for each infantry battalion, 6 and a half units for firepower for the 105 mm artillery, 7 units for the 155 mm artillery, 8 units for the 120 mm mortars, and 9 units for the 75 mm guns of the M-24 tanks1. The logistical preparations of the French forces were complete.

Binh lực Pháp ở Điện Biên Phủ tăng lên nhanh chóng. Đến ngày 3 tháng 12, có 9 tiểu đoàn và hai đội pháo binh, rồi tăng lên 10, 11 và cuối cùng 12 tiểu đoàn, 10 xe tăng M-24, ba pháo đội 105 mm và 155 mm cùng với 4 tiểu đoàn súng cối 120 mm với tổng quân số 16.200 người đã đổ dồn vào lòng chảo Điện Biên. Kèm theo lực lượng tác chiến là trang bị đạn dược, khí tài, nhiên liệu, lương thực, thuốc men phục vụ chiến đấu. Cho đến ngày 13 tháng 3 năm 1954, tập đoàn cứ điểm đã có đủ dự trữ 9 ngày lương thực, 8 ngày nhiên liệu xăng, 6 đơn vị quân cụ phục vụ hỏa lực cho từng tiểu đoàn bộ binh, 6 đơn vị rưỡi phục vụ hỏa lực cho pháo 105mm, 7 đơn vị cho pháo 155mm, 8 đơn vị cho súng cối 120 mm và 9 đơn vị cho pháo 75 mm của xe tăng M-241. Công tác chuẩn bị hậu cần của quân Pháp đã hoàn tất.

General Cogny estimated that once combat began, the massive army in Điện Biên Phủ would require approximately 70 tons of supplies of all kinds per day to ensure provisions for an average level of combat, and 96 tons a day for high-intensity combat1. Such a level of support was well within the control of the French-American coalition. By 1954, 78% of French war expenditures in Indochina were paid for by the United States. In 1953, American aid, both economic and military, had reached 2.7 billion, of which military aid was 1.7 billion dollars; in 1954, the US provided an additional 1.3 billion dollars in aid.

Tướng Cogny ước lượng khi bắt đầu tác chiến, đội quân khổng lồ ở Điện Biên Phủ sẽ cần khoảng 70 tấn vật tư các loại trong một ngày để đảm bảo cung ứng cho mức chiến đấu trung bình và 96 tấn một ngày khi chiến đấu ở mức độ cao1. Mức độ hỗ trợ như vậy nằm trong tầm kiểm soát của liên quân Pháp-Mỹ. Cho đến năm 1954, 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương đã do Hoa Kỳ chi trả. Năm 1953, viện trợ Mỹ cả kinh tế và quân sự đã lên tới 2,7 tỷ trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ đôla, năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3 tỷ đô la nữa.

Engineers opening the road into the campaign under bombardment
Engineers opening the road into the campaign under bombardmentCông binh mở đường vào chiến dịch dưới bom đạn
Trucks transporting goods to the campaign
Trucks transporting goods to the campaignÔ tô vận tải hàng ra chiến dịch

Transporting this vast volume of goods was entirely within the normal logistical capabilities of the French Air Force. From the beginning of the war, the Air Force of the French Expeditionary Corps in Indochina had at its disposal 75 Dakota C-47 transport aircraft and 5 C-119s provided by the US. By 1 February 1954, the number of Dakota aircraft had increased to 100, alongside 16 American civilian Packet C-119 aircraft commanded by the American General Chennault in support, not to mention various French civilian aircraft such as the C-46, Bristol, DC-4, and SO30P… operating in Indochina1. The Mường Thanh airfield could normally receive about 60-80 supply flights per day.

Mức chuyên chở khối lượng hàng hoá to lớn này hoàn toàn nằm trong khả năng tiếp vận bình thường của không quân Pháp. Không quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương từ lúc khởi đầu cuộc chiến đã có trong tay 75 chiếc máy bay vận tải Dakota C47 và 5 chiếc C -119 của Mỹ giúp. Tới ngày 1 tháng 2 năm 1954, số máy bay Dakota tăng lên 100 chiếc và 16 máy bay dân sự Mỹ Packet C-119 của tướng Mỹ Chenault chỉ huy hỗ trợ chưa kể đến nhiều loại máy bay dân sự của Pháp loại C-46 , Bristol, DC-4 và SO30P,…đang hoạt động ở Đông Dương1. Sân bay Mường Thanh có thể tiếp nhận ở mức bình thường khoảng 60-80 chuyến tiếp vận/ngày.

On the side of the Vietnam People's Army, the logistical burden was far greater than that of their adversary. The General Staff of the Vietnam People's Army and the General Department of Supply calculated that the frontline combat troops needed to be supplied with 4,200 tons of rice, 100 tons of vegetables, 100 tons of meat, 80 tons of salt, and 12 tons of sugar, transported over hundreds of kilometers of treacherous, steep mountain passes, and frequently subjected to French aerial bombardment.

Về phía quân đội Nhân dân Việt Nam, gánh nặng công tác hậu cần lớn hơn đối phương rất nhiều. Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam và Tổng cục Cung cấp tính toán bộ đội trực tiếp chiến đấu cần cần được cung ứng 4.200 tấn gạo, 100 tấn rau, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn đường vượt hàng trăm km đường đèo dốc hiểm trở, bị máy bay Pháp thường xuyên đánh phá.

In reality, the total number of troops directly engaged in combat reached 53,830, alongside 33,300 Youth Volunteers and frontline civilian porters. Feeding this enormous number of people required bringing 14,950 tons of rice to the remote mountainous region, not to mention vegetables, meat, medicine… to support the combat operations. Ammunition and gasoline alone amounted to nearly 3,000 tons, of which 1,450 tons was ammunition. In total, approximately 20,125 tons of goods had to be supplied for the Điện Biên Phủ campaign4.

Thực tế, tổng quân số trực tiếp tham chiến lên tới 53.830 quân cùng với 33.300 thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến. Để nuôi số người khổng lồ này cần đưa lên vùng miền núi xa xôi 14.950 tấn gạo, chưa kể đến rau, thịt, thuốc men… để phục vụ cho chiến đấu. Riêng đạn và xăng đã lên tới gần 3.000 tấn, trong đó là 1.450 tấn đạn. Tính chung, khoảng 20.125 tấn hàng hoá phải cung cấp cho chiến dịch Điện Biên Phủ4.

Transporting the aforementioned massive volume of goods over a long journey of hundreds of kilometers required a very strong transport force and highly scientific management. Unlike all previous campaigns in the resistance war, this time the transport means serving the campaign were primarily motorized. A total of 352 transport trucks were used, and at times 94 artillery prime movers had to be mobilized to transport goods. Up to two-thirds of the entire transport truck fleet of the logistics branch were mobilized.

Vận chuyển khối lượng hàng hoá to lớn trên qua một chặng đường dài hàng trăm km cần có lực lượng vận tải rất mạnh và điều hành rất khoa học đảm nhiệm. Khác với mọi chiến dịch khác trong kháng chiến, lần này phương tiện vận tải phục vụ chiến dịch chủ yếu là cơ giới. Tổng số 352 xe ô tô vận tải được sử dụng, có lúc phải huy động thêm 94 xe kéo pháo của pháo binh để vận chuyển hàng hoá. Có tới 2/3 toàn bộ xe vận tải của ngành hậu cần đã được huy động.

Simultaneously, all rudimentary modes of transport were fully utilized. A total of 2,500 pack bicycles, tens of thousands of bamboo rafts, and tens of thousands of civilian porters carrying loads with shoulder poles and on their backs… participated in transporting goods.

Đồng thời mọi phương thức vận tải thô sơ cũng được tận dụng. Tổng số 2.500 chiếc xe đạp thồ, hàng vạn mảng tre nứa và hàng vạn dân công gồng gánh, mang vác... để tham gia vận chuyển hàng hóa.

The General Military Commission assessed: "To conduct this very large campaign, we face many difficulties, the greatest difficulty remains supply, primarily the issue of roads"6. First, transportation routes had to be opened for the campaign. Route 13 from Yên Bái to Tạ Khoa was refurbished. The Ministry of Public Works and Transport repaired Route 13 up to Cò Nòi, and Route 41 from Mộc Châu to Sơn La; combat engineers were responsible for the section of Route 41 from Sơn La to Tuần Giáo and on to Điện Biên Phủ. From December 1953, the construction work began. The Tuần Giáo - Điện Biên Phủ road, 82 km long, originally just a 1-meter-wide trail, was widened into a broad motor road. Artillery prime movers towed the guns to within 15 km of Điện Biên, and then the artillery was manually pulled further along a 3-meter-wide path to firing positions 15 km away. This manual dragging route went from the Nà Nham forest edge, over the 1,150-meter-high Pha Sông peak, down to Bản Tấu, across the Điện Biên Phủ - Lai Châu road, to Bản Nghễu. In just over three months (from December 1953 to early March 1954)6, amidst the freezing winter and under bombing and shelling, tens of thousands of soldiers and Youth Volunteers broke mountains and leveled forests, carving out 89 km of new roads, and repairing and upgrading 500 km across high passes and deep streams2. These newly opened roads involved blasting rocks and leveling passes, and were then carefully camouflaged so that French reconnaissance aircraft could not detect them.

Tổng Quân ủy nhận định: “Để tiến hành chiến dịch rất lớn này, ta có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất vẫn là cung cấp, mà chủ yếu là vấn đề đường sá”6. Đầu tiên phải mở đường vận chuyển cho chiến dịch. Đường 13 từ Yên Bái lên Tạ Khoa được tu bổ. Bộ Giao thông công chính sửa đường 13 lên tới Cò Nòi, và đường 41 từ Mộc Châu lên Sơn La, công binh phụ trách quãng đường 41 từ Sơn La đi Tuần Giáo và đến Điện Biên Phủ. Từ tháng 12 năm 1953, công việc xây dựng bắt đầu. Con đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ, dài 82 km, vốn chỉ là đường mòn rộng 1 m, được mở rộng thành đường ô tô rộng. Xe kéo pháo vào cách Điện Biên 15 km rồi pháo được kéo tiếp bằng tay trên đường rộng 3 m vào trận địa xa 15 km. Từ cửa rừng Nà Nham, qua đỉnh Pha Sông cao 1.150 mét, xuống Bản Tấu, đường Điện Biên Phủ - Lai Châu, tới Bản Nghễu. Chỉ trong chỉ trong hơn ba tháng (từ tháng 12 năm 1953 đến đầu tháng 3 năm 1954)6 giữa mùa đông lạnh giá, dưới bom đạn, hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong đã phá núi, bạt rừng, mở mới 89km đường, sửa chữa nâng cấp 500km xuyên qua đèo cao, suối sâu2. Các con đường mới mở này phải phá đá, bạt đèo rồi được ngụy trang cẩn thận, máy bay trinh sát Pháp không phát hiện nổi.

Soldiers carrying supplies using shoulder poles through the jungle
Soldiers carrying supplies using shoulder poles through the jungleSoldiers carrying supplies using shoulder poles through the jungle