Điện Biên Phủ 1954 ChaptersCác chương SourcesTài liệu
Chapter 4Chương 4

Strike Surely, Advance SurelyĐánh chắc tiến chắc

The hardest decision of the campaign: pull the guns back and fight a longer war of supply.Quyết định khó khăn nhất: kéo pháo ra, chuyển sang đánh chắc, tiến chắc.

0:00

English narration · switch to VI for the Vietnamese versionThuyết minh tiếng Việt · chọn EN để xem bản tiếng Anh

Listen to this chapterNghe toàn chươngRead aloud · 13 minĐọc toàn văn · 9 phút
The Central Area on November 20-24, 1953; French troops had just completed the airfield and main traffic axis
The Central Area on November 20-24, 1953; French troops had just completed the airfield and main traffic axisKhu Trung tâm ngày 20-24 tháng 11 năm 1953, quân Pháp mới hoàn thiện sân bay và trục giao thông chính

The policy of a "swift attack, swift victory" was based on the assessment that the newly landed French troops were in a state of "temporary defense", having not yet had time to build solid fortifications, and exposing many vulnerabilities in the West. The main assault unit

Chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh dựa trên nhận định: quân Pháp mới đổ quân đang trong tình trạng “lâm thời phòng ngự”, chưa kịp xây dựng trận địa kiên cố, lại có nhiều sơ hở ở phía Tây. Đơn vị chủ công

of the Vietnam People's Army was Division 108 (which had previously been sent to the border region of China for military training and to receive weapons23), and according to this plan, it would attack from the West, pierce through the bases in the fields, and advance straight to de Castries' command post. Divisions 312 and 316 would attack from the East into other important bases under the cover of artillery and anti-aircraft guns. This was a tactic that Chinese expert Mai Gia Sinh called "oa tâm tạng" (heart plucking)24. On January 14, 1954, at the Thẩm Púa base, General Võ Nguyên Giáp and the campaign command disseminated the plan along the above lines to the combat commanders of the divisions and regiments. The order was issued to organize the attack according to the "swift attack" plan on January 20.

của quân đội Nhân dân Việt Nam là Đại đoàn 108 (đã từng được đưa sang Trung Quốc ở vùng giáp biên giới huấn luyện quân sự và tiếp nhận vũ khí23), theo kế hoạch này sẽ đánh từ hướng Tây, xuyên qua những căn cứ trên cánh đồng, tiến thẳng tới sở chỉ huy của De Castries. Các đại đoàn 312, 316 đánh từ hướng Đông vào các căn cứ quan trọng khác dưới sự yểm trợ của pháo binh và cao xạ. Đây là chiến thuật mà chuyên gia Trung Quốc Mai Gia Sinh gọi là “oa tâm tạng” (moi tim)24. Ngày 14 tháng 1 năm 1954, tại căn cứ Thẩm Púa, đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến kế hoạch theo phương trên cho các chỉ huy chiến đấu của các đại đoàn, trung đoàn. Lệnh ban ra là sẽ tổ chức tấn công theo phương án “đánh nhanh” vào ngày 20 tháng 1.

The Central Area 4 months later, in March 1954; the stronghold complex had completed construction
The Central Area 4 months later, in March 1954; the stronghold complex had completed constructionKhu Trung tâm 4 tháng sau, tháng 3 năm 1954, Tập đoàn cứ điểm đã hoàn thành xây dựng

However, by this time, the French troops were no longer in a state of "temporary defense". The construction of solid fortifications had been fundamentally completed, and the resistance fortified complex was entirely finished and ready for combat with 49 strongpoints, divided into 3 sub-sectors: the Northern sub-sector consisted of the Độc Lập and Bản Kéo bases, the Central sub-sector was protected by the eastern heights (the Him Lam height lay to the north of this group) and contained the command post, the airfield, resistance clusters, firebases, logistics, and counter-attack forces, and the Southern sub-sector possessed a firebase and a small airfield.

Tuy nhiên, đến lúc này, quân Pháp không còn ở tình trạng “lâm thời phòng ngự” nữa. Công tác xây dựng công sự kiên cố căn bản đã hoàn thành, tập đoàn cứ điểm đề kháng hoàn chỉnh và sẵn sàng chiến đấu với 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu: phân khu Bắc gồm hai căn cứ Độc Lập và Bản Kéo, phân khu Trung tâm được các cao điểm phía Đông bảo vệ (cao điểm Him Lam nằm ở phía Bắc nhóm này), có sở chỉ huy, sân bay, các cụm đề kháng, căn cứ hoả lực, hậu cần và lực lượng phản kích và phân khu Nam có căn cứ hoả lực và sân bay nhỏ.

The French troop strength was 12,000 men, and although this was only about 1/3 of the Vietnamese forces, they held advantages in terrain, fortifications, obstacles, and weaponry. The quantity of artillery of all calibers was slightly higher for the Vietnamese side (64/49 guns), but they had exponentially less ammunition. The French side was vastly superior in armored mobile forces (10 tanks) and completely dominated the skies with their entire air force supported by the US. With the aforementioned correlation of forces and the defensive layout of the French army, right up to the eve of the battle, French and American generals genuinely believed this would be a trap set to annihilate the nascent main forces of the Vietnam People's Army if they accepted the fight. Later, Navarre asserted: "If General Giáp had attacked around January 25 as originally intended, he would certainly have failed. But unfortunately for us, he realized this, and this was one of the reasons that caused him to temporarily suspend the attack25."

Quân số của Pháp là 12.000 người, tuy chỉ bằng khoảng 1/3 lực lượng Việt Nam nhưng nắm trong tay lợi thế về địa hình, công sự, vật chướng ngại và trang bị vũ khí. Số lượng pháo binh kể cả các cỡ thì phía Việt Nam nhỉnh hơn (64/49 khẩu) nhưng đạn thì ít hơn rất nhiều lần. Phía Pháp hơn hẳn ở lực lượng cơ động thiết giáp (10 xe tăng) và hoàn toàn làm chủ bầu trời với toàn bộ không quân được Mỹ yểm trợ. Với tương quan lực lượng như trên và cách bố phòng của quân đội Pháp, thực sự cho đến sát trận đánh, các tướng lĩnh Pháp, Mỹ vẫn tin rằng đây sẽ là cái bẫy giương ra để tiêu diệt lực lượng chủ lực non trẻ của quân đội nhân dân Việt Nam nếu họ chấp nhận cuộc chiến. Sau này, Navarre khẳng định: “Nếu tướng Giáp tiến công vào khoảng 25 tháng 1 như ý đồ ban đầu thì chắc chắn ông ta sẽ thất bại. Nhưng không may cho chúng ta, ông đã nhận ra điều đó và đây là một trong những lí do khiến ông tạm ngưng tiến công25.”

On February 8, 1954, Commander-in-Chief Võ Nguyên Giáp presents the attack plan at the Mường Phăng base
On February 8, 1954, Commander-in-Chief Võ Nguyên Giáp presents the attack plan at the Mường Phăng baseNgày 8 tháng 2 năm 1954, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp phổ biến kế hoạch tấn công tại căn cứ Mường Phăng

Realizing that victory was not assured and clearly foreseeing the immense sacrifices of the Vietnamese troops if the "swift attack, swift victory" method was applied, General Võ Nguyên Giáp held fresh discussions with the Front Party Committee and the Chinese expert delegation to propose the adoption of a new approach, which was to "strike surely, advance surely".

Nhận thấy không nắm chắc phần thắng và nhìn rõ sự hy sinh to lớn của bộ đội Việt Nam nếu áp dụng cách “đánh nhanh, thắng nhanh”, đại tướng Võ Nguyên Giáp thảo luận lại với Đảng uỷ mặt trận và đoàn chuyên gia Trung Quốc để đề xuất áp dụng cách mới là “đánh chắc, tiến chắc”.

This plan consisted of 3 steps: step 1, completing the motor road to transport weapons and goods and preparing logistics; perfecting the artillery bunker system, and building a network of siege trenches to overcome the enemy's artillery and aircraft advantage. Step 2, destroying the outer resistance centers, controlling the airfield, bringing anti-aircraft guns into the fields, deeply exploiting the enemy's weaknesses, and cutting off the enemy's supply sources. Step 3, a general offensive, attacking the command post, and destroying the enemy's manpower. Fighting in this manner capitalized on Vietnam's advantages and limited the strengths of the French troops. It could be said that shifting to the new method of attack, although causing general difficulties for the Vietnamese troops, ensured greater safety for all forces; the logistical assurance forces in particular not only faced much greater hardship but also bore far more danger.

Kế hoạch này gồm 3 bước: bước 1, hoàn tất đường ô tô vận chuyển vũ khí, hàng hoá và chuẩn bị hậu cần; hoàn chỉnh hệ thống hầm pháo, xây dựng trận địa chiến hào bao vây để khắc phục ưu thế phi pháo và máy bay của địch. Bước 2, tiêu diệt các trung tâm đề kháng phía ngoài, khống chế sân bay, đưa cao xạ vào cánh đồng, khoét sâu yếu điểm của địch, triệt nguồn tiếp tế của địch. Bước 3, tổng công kích, tấn công sở chỉ huy, tiêu diệt sinh lực địch. Đánh theo cách này phát huy được ưu thế của Việt Nam, hạn chế thế mạnh của quân Pháp. Có thể nói, chuyển cách đánh mới tuy gây khó khăn chung cho bộ đội Việt Nam nhưng đảm bảo an toàn hơn cho tất cả mọi lực lượng, riêng lực lượng bảo đảm hậu cần chẳng những vất vả hơn mà còn gánh chịu nguy hiểm hơn nhiều.

Vietnamese soldiers manually pulling artillery to reposition the firing site
Vietnamese soldiers manually pulling artillery to reposition the firing siteBộ đội Việt Nam kéo pháo bố trí lại trận địa

The prolonged duration could extend well into the rainy season, the volume of logistics had to increase 8 - 9 times, the campaign logistics assurance organization had to be adjusted, and logistical preparations had to be rebalanced to meet the situation of a "long-term, continuous, and fierce battle" with several prominent characteristics:

Thời gian kéo dài có thể sang đến cả mùa mưa, khối lượng hậu cần phải tăng lên gấp 8 - 9 lần, tổ chức đảm bảo hậu cần chiến dịch phải điều chỉnh, các chuẩn bị hậu cần phải cân đối lại để đáp ứng tình hình: “đánh dài ngày, liên tục, ác liệt” với mấy đặc điểm nổi bật:

For the first time, combat assurance supply operations were carried out on the battlefield under enemy fire. It was necessary to build a network of trenches and bunkers and to reorganize and move underground the stages of: catering, first aid, transportation... linking the frontline to the rear.

Lần đầu tiên thực hành tiếp tế bảo đảm tác chiến trên trận địa dưới hỏa lực địch. Phải xây dựng hệ thống hầm hào và tổ chức lại đưa xuống hầm các khâu: cấp dưỡng, cứu thương, chuyển vận...nối liền tuyến trước, tuyến sau.

Combat activities such as attacking, besieging, and encroaching were continuous and did not form distinct, isolated battles. Fierce raids and counter-raids would occur, resulting in heavy casualties and losses. This demanded that materiel and manpower be replenished regularly and promptly, rapidly restoring the "trench reserve quotas" of weapons and food.

Các hoạt động chiến đấu như tấn công, vây hãm, đánh lấn liên tục nhau không thành từng trận đánh. Những trận đột kích, phản đột kích quyết liệt sẽ diễn ra, thương vong tổn thất nhiều. Đòi hỏi vật chất, nhân lực phải được bổ sung thường xuyên kịp thời và nhanh chóng khôi phục “cơ số dự trữ chiến hào” về vũ khí, lương thực.

Organizing "battlefield life" to ensure hygiene and safety for tens of thousands of troops and civilian porters, treating the wounded, and repairing weapons and ammunition... all stretching into the rainy season beneath the bombs and shells of the enemy air force.

Tổ chức “đời sống chiến địa”đảm bảo vệ sinh, an toàn cho hàng vạn bộ đội, dân công, cứu chữa thương binh, sửa chữa súng đạn… kéo dài sang mùa mưa dưới bom đạn của không quân địch.

The greatest difficulty for campaign logistics was the transportation phase. Motorized routes from the rear to the frontline consisted of only two narrow roads (13, 41), filled with steep passes. Enemy aircraft would concentrate on fiercely bombing the most perilous sections (Cà Pass, Khế Pass, Mỏ Thổ, Pha Đin, Cò Nòi...)14.

Khó khăn lớn nhất cho hậu cần chiến dịch là khâu vận tải. Đường cơ giới từ hậu phương lên tiền tuyến chỉ có hai con đường1341 nhỏ hẹp, lắm đèo dốc. Máy bay địch sẽ tập trung oanh tạc dữ dội những đoạn hiểm yếu nhất (đèo Cà, đèo Khế, Mỏ Thổ, Pha Đin, Cò Nòi...)14.

Soldiers advancing through a battlefield trench system past fallen casualties
Soldiers advancing through a battlefield trench system past fallen casualtiesSoldiers advancing through a battlefield trench system past fallen casualties

Executing the new combat motto, over the following nearly 2 months, the Vietnam People's Army pulled their artillery out, expanded and lengthened the roads, and then pulled the artillery back in, built solid fortifications, dug trenches and bunkers to approach closer to the French army bases, and concentrated on transporting vastly more provisions and weapons up from the rear.

Thực hiện phương châm tác chiến mới, trong vòng gần 2 tháng sau, quân đội nhân dân Việt Nam kéo pháo ra, mở đường rộng, dài hơn, rồi lại kéo pháo vào, xây dựng công sự kiên cố, đào hầm hào tiếp cận gần hơn căn cứ quân Pháp, tập trung vận chuyển thêm rất nhiều lương thảo, vũ khí từ hậu phương lên.

By early February 1954, the combat forces of the Vietnam People's Army at Điện Biên Phủ had risen to 4 infantry divisions, one engineering-artillery division, and several other service units. The combat troop strength was 43,000 men, and material requirements multiplied many times over compared to the initial plan, reaching nearly 20 thousand tons5. Therefore, from mid-February 1954, the supply work also had to rapidly reorganize to meet the new combat plan of the campaign: The Supply Council's transportation route was extended up to Sơn La; the forces serving the campaign were reinforced with 3,168 cadres, soldiers, and specialized technical staff, and over 261,451 civilian porters and Youth Volunteers7.

Đến đầu tháng 2 năm 1954, lực lượng chiến đấu của quân đội Nhân dân Việt Nam ở Điện Biên Phủ đã lên tới 4 đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công pháo và một số đơn vị phục vụ khác. Quân số chiến đấu là 43.000 người, nhu cầu vật chất tăng gấp nhiều lần so với kế hoạch ban đầu, đạt tới gần 20 nghìn tấn5. Vì vậy, từ trung tuần tháng 2 năm 1954, công tác tiếp tế cũng phải nhanh chóng thay đổi lại đáp ứng phương án tác chiến mới của chiến dịch: Tuyến vận chuyển của Hội đồng Cung cấp kéo dài lên đến Sơn La; lực lượng phục vụ chiến dịch được tăng cường với 3.168 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và hơn 261.451 dân công, thanh niên xung phong7.

An express letter was sent back to report to the Politburo and President Hồ, requesting approval of the new combat policy and proposing the mobilization of the rear to support the troops with enough food to fight and win under conditions where the campaign might be prolonged34. The Party Committee was determined to direct the commanders of the troops to successfully execute the mission assigned by the Central Committee, which was to annihilate the entire enemy force at Điện Biên Phủ. The General Military Commission reinforced the Forward Supply General Department with over 300 cadres, including 35 high- and mid-level cadres, and appointed Trần Lương - Deputy Director of the General Political Department - as the Political Commissar of campaign logistics. At this time, all Department Directors under the Supply General Department set off to serve the campaign. The campaign supply forces were reorganized; along the campaign transportation route of over 500 km, the campaign logistics organization was divided into 3 routes, and military supply bases and warehouses were also arranged into three areas5:

Một bức thư hoả tốc được gửi về báo cáo Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch đề nghị phê duyệt chủ trương tác chiến mới và đề nghị động viên hậu phương chi viện bộ đội ăn no đánh thắng trong điều kiện chiến dịch có thể kéo dài34. Đảng uỷ quyết tâm chỉ đạo chỉ huy bộ đội thực hiện bằng được nhiệm vụ Trung ương trao cho là tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Tổng Quân ủy tăng cường cho Tổng cục Cung cấp tiền phương hơn 300 cán bộ, trong đó có 35 cán bộ cao cấp, trung cấp và cử Trần Lương - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy hậu cần chiến dịch. Lúc này, tất cả các Cục trưởng thuộc Tổng cục Cung cấp đều lên đưòng phục vụ chiến dịch. Lực lượng cung cấp chiến dịch được chấn chỉnh, dọc theo đường vận chuyển chiến dịch dài hơn 500 km, tổ chức hậu cần chiến dịch chia ra 3 tuyến, các cơ sở và kho tàng quân nhu cũng được bố trí thành ba khu vực5:

From Sơn La and Lai Châu to Tuần Giáo, headed by Đinh Đức Thiện, with Mai Quang Ca as political commissar. The command post was located near Sơn La town; from Tuần Giáo to km 62, headed by Vũ Văn Đôn, with Kinh Chi as political commissar, the command post was located near Tuần Giáo; and from km 62 out to the firing line battlefields, headed by Nguyễn Thanh Bình, with Deputy Director of the Logistics Political Department Vũ Xuân Chiêm as political commissar, the command post was situated at Km 6 on the road from Tuần Giáo to Điện Biên Phủ1221. Each route had a command component and a logistical operations assurance component, organized into four military stations in Ba Khe, Sơn La, Tuần Giáo, and Km 62; each military station had sufficient transport, warehouse, and military medical forces, both to support marching troops and to forward military equipment and directly serve the battlefield68. Every transportation route organized a synchronized force: trucks, pack bicycles, and civilian porters, engaged in both transportation and road building toward the frontline12. At the vanguard, behind the logistics of each combat unit lay the campaign logistics. Forward warehouses were established in Mường Pồn and Bản Tấu, and three treatment teams 2, 3, and 5 were positioned as the rear echelon for the military medics of divisions 308, 312, and 31621.

Từ Sơn La, Lai Châu đi Tuần Giáo do Đinh Đức Thiện phụ trách, Mai Quang Ca làm chính trị viên. Sở chỉ huy đặt ở gần thị xã Sơn La; Từ Tuần Giáo đến km 62 do Vũ Văn Đôn phụ trách, Kinh Chi làm chính trị viên sở chỉ huy đặt ở gần Tuần Giáo và từ km 62 ra các trận địa hoả tuyến do Nguyễn Thanh Bình phụ trách Cục phó Cục Chính trị hậu cần Vũ Xuân Chiêm làm chính trị viên, sở chỉ huy đặt tại Km 6 trên đường Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ1221. Mỗi tuyến có bộ phận chỉ huy và bộ phận đảm bảo hoạt động hậu cần, tổ chức thành bốn binh trạm ở Ba Khe, Sơn La, Tuần Giáo, Km 62, mỗi binh trạm có đủ các lực lượng vận tải, kho, quân y, vừa bảo đảm cho bộ đội hành quân, vừa tiếp chuyển quân cụ và trực tiếp phục vụ chiến trường68. Mỗi tuyến vận tải đều tổ chức đồng bộ lực lượng: ô tô, xe thồ, dân công, vừa vận tải, vừa làm đường ra tiền tuyến12. Tại tiền tiêu, phía sau hậu cần của từng đơn vị chiến đấu là hậu cần chiến dịch. Kho phía trước đặt ở Mường Pồn, Bản Tấu và ba đội điều trị 2, 3, 5 bố trí làm tuyến sau cho quân y các đại đoàn 308, 312 và 31621.

In addition to the three aforementioned logistical routes, the campaign logistics also organized two support transportation routes. In the South, the Mường Luân - Nà Sang route was commanded by Deputy Director of the Ordnance Department Trần Thùy. In the North, the Ba Nậm Hu route transported Chinese aid rice from Ba Nậm Cúm by raft to Lai Châu town and by pack bicycle to Mường Pồn and Bản Tấu. This route was commanded by the Northwest Commander - Bằng Giang - and the Director of the Ordnance Department Nguyễn Văn Nam21.

Ngoài ba tuyến hậu cần nêu trên, hậu cần chiến dịch còn tổ chức hai tuyến vận tải hỗ trợ. Ở phía Nam, tuyến Mường Luân - Nà Sang do Cục phó Cục Quân khí Trần Thùy làm chỉ huy trưởng. Ở phía Bắc, tuyến Ba Nậm Hu vận chuyển gạo Trung Quốc viện trợ từ Ba Nậm Cúm chở bằng mảng về thị xã Lai Châu và bằng xe đạp thồ về Mường Pồn, Bản Tấu. Tuyến này do Tư lệnh Tây Bắc - Bằng Giang và Cục trưởng Cục Quân khí Nguyễn Văn Nam chỉ huy21.

With the proactive spirit of all forces, by March 11, 1954, the preparations for the campaign according to the "strike surely, advance surely" plan had been thoroughly and timely completed for the opening moment of the offensive to annihilate the Điện Biên Phủ fortified complex.

Với tinh thần tích cực của các lực lượng, đến ngày 11 tháng 3 năm 1954 công tác chuẩn bị cho chiến dịch theo phương án “đánh chắc, tiến chắc” đã kết thúc chu đáo, kịp thời điểm mở màn tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.